Thứ Ba, 5 tháng 7, 2022

 

Tử vi Hỏa Linh

Ngày đăng: 12/04/2008 00:00:00




Ngũ hành
Hỏa Linh là Nam đẩu tinh Âm Hỏa (TTL, Việt Viêm Tử)
VVT thì cho Linh Tinh là Nam đẩu tinh thuộc Hỏa đới Kim (Việt Viêm Tử)


Đắc hãm
Đắc địa tại Dần Mão Thìn Tỵ Ngọ (cung ban ngày) (TTL)
Người viết cho là Hỏa Linh đắc địa tại Dần Mão Tỵ Ngọ, hãm tại các cung còn lại. Tuy hãm địa nhưng nếu Hỏa Linh đóng tại cung Thổ (Thìn Tuất Sửu Mùi) thì cũng đỡ lo ngại hơn các vị trí hãm địa khác, tại Thìn Tuất thì đỡ hại hơn Sửu Mùi
Riêng Việt Viêm Tử thì cho rằng Hỏa Linh miếu vượng tại Dần Mão, Tỵ Ngọ, Tuất (có khi ghi rằng Hỏa miếu tại Ti thay vì Tỵ) Linh Tinh hãm tại Thân Dậu
Hỏa Tinh lửa đốt tứ bề,
Tỵ Ngọ Dần Mão đề huề vượng cung (AB332)
Linh Tinh là điện lửa trời,
Tí Ngọ miếu địa, hãm thời Dậu Thân (AB333)


Hình dáng, bệnh tật
Theo Việt Viêm Tử thì Hỏa Tinh mắt lớn, lộ vẻ hung hãn, lông mọc trong người khác lạ, môi răng và chân tay có nhiều vết tích. Linh Tinh thì tướng mạo có nhiều sự khác lạ, cốt cách phá tướng, mắt lớn
Theo TTL thì Mệnh có Hỏa hay Linh đơn thủ thì thân hình thô xấu, lông tóc vàng hay đỏ, thường có tì vết ở tay chân hay răng miệng (TTL160)


Mặt mày khó, khắc khổ, không tươi, âu sầu nếu hãm địa
Kiếp Không da ắt đen hoàn,
Hỏa Linh mặt khó sầu đăm đêm ngày


Hỏa Linh hãm tại Tí Hợi thì dễ bị đau tim (AB238)
Hỏa Linh hội với Kình Hình thi hay mắc bệnh thần kinh, các chứng kinh phong, gân cốt bị yếu (AB238)
Hỏa Linh hội với Riêu Hình thì khi ngủ hay bị mơ màng hình ảnh ma quái (AB238)


Biểu tượng
Hỏa Tinh, Linh Tinh: bó đuốc
Tấu Thư gặp Hỏa hay Linh: rượu mùi
Thiên Lương gặp Hỏa Linh: thịt dê ngựa
Hỏa Tinh Tấu Thư đồng cung với Cự Kỵ: thuốc lá hay thuốc phiện
Theo người viết thì Hỏa tượng lửa dưới đất, Linh tượng lửa trên trời, lửa do sấm sét tạo ra


Ý nghĩa
Là sát tinh, chủ sát phạt (TTL)
Hãm địa thì thâm trầm, nham hiểm, hay giết chóc, sát phạt, đốt phá, cô bần, gây tại họa, bệnh tật, giảm thọ nên còn gọi là Đoản Thọ sát tinh nhưng nếu nhập miếu lại giúp ích lớn lao (AB238, TTL58)


Đặc điểm về cách an sao
Hỏa Linh được an căn cứ vào chi của năm sinh và giờ sinh
Cần xác định cung khởi trước theo bài ca sau, chi đầu là cung khởi của Hỏa Tinh, chi sau là cung khởi của Linh Tinh:
Thân Tí Thìn nhân: Dần, Tuất tường
Dần Ngọ Tuất nhân: Sửu, Mão vị
Tỵ Dậu Sửu nhân: Mão, Tuất phương
Hợi Mão Mùi nhân: Dậu, Tuất phường
Tiên thì khởi Hỏa, hậu thì khởi Linh
Từ cung khởi bên trên gọi là giờ Tí, căn cứ vào:
Dương Nam, Âm Nữ: an Hỏa thuận đến giờ sinh, Linh nghịch đến giờ sinh
Âm Nam, Dương Nữ: an Hỏa nghịch đến giờ sinh, Linh thuận đến giờ sinh


Cách an sao của Hỏa Linh có nhiều khác biệt giữa nhiều tác giả:
Đắc Lộc thì cách an Hỏa Linh như trên nhưng chỉ khác là tuổi Tỵ Dậu Sửu thì cung khởi là Tuất Mão thay vì Mão Tuất
Việt Viêm Tử thì từ cung khởi, tính thuận theo giờ sinh, Nam khởi Hỏa trước, Nữ khởi Linh trước chứ không phân biệt Dương Nam Âm Nữ hoặc Âm Nam Dương Nữ để tính thuận hay nghịch theo giờ sinh
Nguyễn Mạnh Long thì an Hỏa Linh căn cứ vào năm sinh mà thôi: tuổi Thân Tí Thìn thì an Hỏa tại Dần, Linh tại Tuất, tuổi Dần Ngọ Tuất thì an Hỏa tại Sửu, Linh tại Mão, tuổi Tỵ Dậu Sửu thì an Hỏa tại Tuất, Linh tại Mão và tuổi Hợi Mão Mùi thì an Hỏa tại Dậu, Linh tại Tuất, nghĩa là an Hỏa và Linh tại cung khởi theo Đắc Lộc


Nhận định
Cách an sao của Mạnh Long đưa tới Hỏa Linh thiếu tại nhiều vị trí như Thìn, Mùi... và khi đọc phú thì thấy có nhiều câu phú liên quan đến các vị trí thiếu đề cập thành ra cách an sao này chắc là sai
Việt Viêm Tử thì từ cung khởi, tính thuận theo giờ sinh. Đọc phú chúng ta thấy có cách giáp Hỏa Linh, nếu chỉ an thuận theo giờ sinh thì với cung khởi như vậy thì không có cách giáp thành ra cách an sao như vậy không khả tin
Còn lại thì chúng ta cần kiểm lại vị trí Hỏa Linh đổi chỗ nhau cho tuổi Tỵ Dậu Sửu


Nhận xét về tư thế phối hợp của Hỏa Linh
Tuổi Thân Tí Thìn: hai cung khởi Dần, Tuất tam hợp, vận hành ngược chiều nên đồng cung tại Tí Ngọ, xung chiếu tại Mão Dậu, tam chiếu tại Dần Tuất hoặc Thìn Thân và chỉ có cung Tí Ngọ mới có cách giáp Hỏa Linh (đồng cung hay xung chiếu tại Tứ Chính Tí Ngọ Mão Dậu)
Tuổi Dần Ngọ Tuất hai cung khởi cách nhau một cung: Sửu và Mão nên cung Dần và Thân có cách giáp Hỏa Linh. Hai sao đồng cung tại Dần và Thân, xung chiếu tại Tỵ và Hợi, tam hợp tại Tí Thìn hoặc Ngọ Tuất (đồng cung hay xung chiếu tại Tứ Sinh)
Tuổi Tỵ Dậu Sửu hai cung khởi là Mão Tuất, vận hành ngược chiều nên không có vị trí đồng cung, xung chiếu, tam hợp, giáp mà chỉ luôn luôn nhị hợp với nhau
Tuổi Hợi Mão Mùi hai cung khởi Dậu Tuất đứng sát nhau thành ra không có vị trí đồng cung, xung chiếu, tam hợp, giáp mà chỉ luôn đứng theo vị trí lục hại
Tóm lại tuổi Âm thì Hỏa Linh không đồng cung, tam hợp xung chiếu và không có vị trí giáp, còn tuổi Dương thì có khả năng có sự phối hợp, và khi đóng tại Thìn Tuất thì luôn tam hợp với nhau. Cũng cần chú ý rằng cách giáp Hỏa Linh chỉ có thể xảy ra tại cung Tí Ngọ hoặc Dần Thân mà thôi


Hỏa Linh trong mối tương quan với năm sinh và phương hướng nơi sinh
Người xưa chỉ ghi lại Hỏa Linh thì hợp với Đông Nam sinh nhân, không hợp với Tây Bắc sinh nhân
Có hai cách giải thích như sau:
Hỏa Linh hợp với người sinh ở phương Đông và Nam, không hợp với người sinh ở phương Tây và Bắc, nghĩa là hợp với người tuổi Dần Mão (Đông) và Tỵ Ngọ (Nam), không hợp với người tuổi Thân Dậu (Tây) và Hợi Tí (Bắc). Người tuổi Dần Mão, Tỵ Ngọ gặp Hỏa Linh đắc địa thì càng tốt hơn, nếu gặp Hỏa Linh hãm địa thì cũng đỡ lo ngại. Người tuổi Thân Dậu, Hợi Tí nếu gặp Hỏa Linh đắc thì cũng tốt nhưng giảm đi, còn nếu gặp Hỏa Linh hãm địa thì càng xấu hơn. Người tuổi Tứ Mộ (Thìn Tuất Sửu Mùi) thì luận bình thường
Riêng TTL thì kết hợp cả năm sinh và phương hướng nơi sinh mà luận giải như sau:
Người sinh ở phương Đông, Nam mà cung Mệnh có Hỏa Linh đắc thì hưởng giàu sang nhưng không được lâu bền (TTL)
Người sinh ở phương Tây và Bắc mà cung Mệnh có Hỏa Linh hãm địa thủ thì thật là nguy khốn đến cùng cực (TTL)
Chỉ có người sinh năm Dần Mão, Tỵ Ngọ có Hỏa Linh đắc địa thủ Mệnh thì hợp cách. Trong trường hợp này nếu Hỏa Linh gặp nhiều sao sáng sủa hội họp thì chắc chắn được hưởng giàu sang trọn đời (TTL)


Hỏa Linh thủ Mệnh
Hỏa Linh đắc địa thủ Mệnh thì
Nóng nảy, cương cường, bất khuất
Can đảm, dũng mãnh, có chí khí hiên ngang
Người sinh năm Dần Mão, Tỵ Ngọ có Hỏa Linh đắc địa thủ Mệnh thì hợp cách. Trong trường hợp này nếu Hỏa Linh gặp nhiều sao sáng sủa hội họp thì chắc chắn được hưởng giầu sang trọn đời (TTL160)
Người sinh ở phương Đông, Nam mà cung Mệnh có Hỏa Linh đắc địa thủ thì cũng được hưởng giầu sang nhưng không được lâu bền (TTL160)
Nam Mệnh có Hỏa Linh đắc địa thủ Mệnh, nếu ứng hợp với năm sinh và phương hướng của nơi sinh thì chắc chắn được hưởng phú quí song toàn, hiển đạt về võ nghiệp (TTL160)


Nữ Mệnh có Hỏa Linh đắc địa thủ Mệnh thì:
Trinh tiết, sắt son thờ chồng mặc dù có số mệnh hình phu khắc tử (AB469)
Nếu ứng hợp với năm sinh và phương hương của nơi sinh thì là con nhà khuê các, nhưng có tính cương cường nóng nảy và có gan dạ như đàn ông, suốt đời cũng hưởng giầu sang (TTL160)
Tọa thủ tại Dần Mão Tỵ Ngọ thì rất hợp với Đông Nam sinh nhân nên cũng được phúc nhỏ (VVT)


Hỏa Linh hãm địa thủ Mệnh thì:
Mặt âu sầu
Nóng nảy
Ương ngạnh
Thâm hiểm, tâm địa lang độc, gian ác
Liều lĩnh (TTL160)
Thường mắc bệnh thần kinh hay khí huyết, sức khoẻ càng ngày càng suy yếu, suốt đời cùng khổ, khó tránh được nhưng tai họa khủng khiếp, nếu không mang tật trong minh thì phải yểu tử. Chỉ có sớm xa gia đình, làm con nuôi họ khác thì may ra mới được yên thân (TTL160)
Người sinh ở phương Tây và Bắc mà cung Mệnh có Hỏa Linh hãm địa thủ thì thật là nguy khốn đến cùng cực (TTL160)


Nam Mệnh có Hỏa Linh hãm địa thủ Mệnh thì rất đáng ngại vì hay mắc những bệnh tật, tai họa nguy hiểm, suốt đời cùng khổ, cô đơn, thường phải sớm lìa bỏ gia đình, lang thang bôn tẩu, nếu chân tay không bị thương tích thì không thể sống lâu được(TTL160)


Nữ Mệnh có Hỏa Linh hãm địa thủ Mệnh thì
Hà tiện, dâm dật, đêm ngủ hay mơ thấy đàn ông (TTL160)
Cương cường, cương ngạnh, chống đối mọi người thân (AB471)
Thường khắc hại chồng con, thương phu khắc tử (TTL160, AB471)
Linh hãm thủ Mệnh thì tướng mạo có nhiều sự khác lạ, cốt cách phá tướng, tâm địa độc hại, tính tình trầm lặng, nhiều khi thành lãnh đạm, nhưng gan to mật lớn khác thường (AB333)
Lòng dạ độc địa, lang chạ, tà dâm, chẳng giữ đạo làm vợ, hình phu khắc tử, nhiều chồng mà hiếm con, đa thị phi, hay gây chuyện thị phi hà tiện, phải tân toan lao khổ (AB469)
Khi hãm địa nếu không được cát tinh hóa giải thì chẳng những tự vùi thân vào chốn bùn dâm ô, nghèo khốn, mà còn chết non (AB471)


Cần chú ý rằng Hỏa Linh dù đắc hay hãm mà gặp Tham Lang, nhất là sáng sủa, thủ đồng cung thì rất tốt đẹp. Trong trường hợp này thì các đặc tính hãm địa bị mất đi, trái lại lại còn trở nên tốt đẹp, mọi việc trong đời đều vừa lòng, được hưởng giàu sang trọn đời. Mệnh an tại Tứ Mộ có Hỏa Linh thủ gặp Tham, Vũ đồng cung (Tham Lang Thìn Tuất, Tham Vũ Sửu Mùi) thì rất rực rỡ tốt đẹp. có cách này thì chắc chắn xuất Tướng nhập Tướng, văn võ toàn tài, có uy quyền hiển hách, danh tiếng lừng lẫy, và được hưởng giầu sang trọn đời. Theo VVT thì Linh Tinh gặp Tham Lang đồng cung, người tuổi Thìn Tuất Sửu Mùi thì một bước lên giàu có, sang trọng, tiền bạc phong túc (AB471)
Tử Phủ có thể chế bớt được tính hung ác của Hỏa Linh


Hỏa Linh tại Mệnh ca
Hỏa, Linh tại Mệnh lạc nhàn cung, (Mệnh có Hỏa Linh hãm địa thủ)
Tây Bắc sinh nhân tác sự dong (dung, VTL làm việc khó thành)
Phá hoạnh (Phá tận, VTL) gia tài, chung bất cửu (chung cuộc không bền)
Tu giao đới tật, miễn tai hung (QXT) (nếu có đới tật thì không bị tai hung)
(Theo QXT tuổi Dần Ngọ Tuất hành Hỏa, Hỏa tinh phải ở ba cung này mới đẹp. Tuổi Thân Tí Thìn hành Thủy, Hỏa Tinh ở ba cung này rất xấu. Tuổi Tỵ Dậu Sửu Hỏa Tinh ở ba cung này thì bình thường. Tuổi Họi Mão Mùi Hỏa Tinh ở cung Mão Mùi rất tốt. Tóm lại tối kỵ ở cung Hợi Tí là thủy cung rất xấu. Tối kỵ ở Thân, Dậu cung xấu vừa)


Hỏa Linh Nam Mạng ca
Hỏa, Linh nhị chiếu (nhị diệu, VTL) cư miếu địa
Tham Lang, Tử, Phủ nghi tương hội
Vi nhân tính cấp, hữu uy quyền (là người tính nhanh lẹ, có uy quyền)
Chấn yểm (áp, VTL) hương bang, chung hữu quí (oai quyền lừng lẫy) QXT)


Hỏa Linh Nữ Mệnh ca
Nam Đẩu phụ tinh (Hỏa Tinh) nữ kỵ phùng (Nữ Mệnh kỵ Hỏa Tinh hãm địa)
Chủ tâm lang độc, tiện dâm dung (mặt dâm tiện)
Khắc tử, lăng phu (lang chạ), đa chiêu oán
Cát đa xung chiếu, bất miễn hung (gặp nhiều cát tinh thì vẫn hung) (AB470)


Hỏa Tinh nhất tú, tối qua trương (là sao ngang trái nhất trong các sao)
Vô sự quan tai náo nhất trường (không có chuyện gì bỗng nhiên mắc quan sự, tai kiếp)
Khắc hại lục thân, ưng bất miễn (cố độc, không thể tránh khỏi việc khắc hại lục thân)
Phá tài, gian khổ miễn tê hoàng (phá tán tiền bạc, khó miễn được gian khổ trong đời) (AB471)


Linh Tinh Nữ Mệnh ca
Nam Đẩu phù tinh (Linh Tinh) nhập Mệnh lai
Tham Lang tương hội đắc hòa giai (gặp Tham Lang hóa thành tốt đẹp)
Tam phương vô sát chư ân mỹ (không gặp sát tinh hội họp thì rất tốt đẹp)
Tọa thủ hương khuê đắc toại hoài (ra vào chốn lâu son gác tía, mọi ước muốn đều toại lòng) (AB472)


Linh Tinh ác diệu tối nan đương (khó lòng đương cự nổi sự tác hại)
Nữ Mệnh đơn phùng tất chủ thương (chủ hình thương, đau khổ)
Nhược ngộ tam phương vô sát tấu
Tu phòng mục hạ nhập tuyền hương (đề phòng phải về nơi suối vàng, y nói chết) (AB472)


Hỏa Linh Nữ Mệnh ca
Hỏa Linh chi tinh nhập Mệnh lai
Tham Lang tương hội đắc hòa giai (hòa hài, VTL)
Tam phương vô sát, chư ban mỹ (không có sát tinh hội họp thì tốt đẹp)
Tọa thử hương văn (khuê, VTL) đắc toại hoài (QXT) (số gái hạnh phúc giàu sang, VTL)


Hỏa Linh nhị diệu tối nan đương
Nữ Mệnh đơn phùng tất chủ thương
Nhược ngộ tam phương gia sát tấu
Tu phòng mục hạ (mù) nhập tuyền hương (QXT)


Luận giải sơ lược về Hỏa Linh
Khi luận giải Hỏa Linh cần chú ý các trường hợp ngoại lệ như sau:
Các tuổi Dần Mão, Tỵ Ngọ thì hợp với Hỏa Linh, các tuổi Thân Dậu, Hợi Tí thì không hợp với Hỏa Linh. Khi hợp thì tốt càng tốt thêm, xấu thì bớt xấu. Khi không hợp thì tăng xấu, giảm tốt
Tham Lang dù hãm hay đắc gặp Hỏa Linh đồng cung, dù Hỏa Linh hãm địa, cũng biến xấu thành tốt, chủ về phú quí, uy quyền. Chú ý rằng phải tọa thủ đồng cung thì mới là đúng cách, còn nếu chiếu thì Hỏa Linh hãm địa lại phối hợp với Sát Phá gây tác họa
Tử Phủ có thể giảm bớt tính hung của Hỏa Linh hãm địa. Các bộ sao giải họa của Không Kiếp và Kình Đà thì có thể vận dụng linh hoạt cho Hỏa Linh như Tứ Linh, Quang Quí, Khoa, Tuần Triệt, Quan Phúc...


Các chính tinh sáng sủa, ngoại trừ Cơ Lương, không đáng lo ngại khi gặp Hỏa Linh hãm địa, đặc biệt là Tử Phủ Vũ Tướng, Sát Phá Liêm sáng sủa. Tử Phủ sáng sủa thì giải được Hỏa Linh hãm địa
Hỏa Linh đắc địa thì tốt đẹp, nếu hãm địa thì rất xấu xa, nhất là khi đi với các chính tinh hãm địa, đặc biệt là Sát, Phá, Liêm, Cự Môn, Cơ, Lương hãm hoặc các hung tinh hãm địa khác như Không Kiếp, Kình Đà, Thiên Hình. Riêng Cơ Lương dù đắc hay hãm cũng tối kỵ gặp Hỏa Linh đắc hãm nhất là thủ đồng cung, rất hung. Nhật Nguyệt cũng kỵ gặp Hỏa Linh hãm địa nhưng không tối kỵ như Cơ Lương

Tham Lang cải hóa được sự xấu của Hỏa Linh hãm địa khi đồng cung. Tham Lang khi đồng cung với Hỏa hoặc Linh thì cả hai trở nên tốt đẹp, bất kể Tham hãm hay Hỏa Linh hãm. Nếu Tham sáng sủa thì tốt hơn Tham hãm địa. Tham gặp Hỏa là Phú ông cách, chủ về giàu có. Tham gặp Linh là Tướng Tướng chi danh cách, chủ uy quyền, hiển đạt về võ nghiệp. Tham Lang cư Tứ Mộ (Thìn Tuất Sửu Mùi, nghĩa là Tham Lang Thìn Tuất, Vũ Tham Sửu Mùi đồng cung với Hỏa hoặc Linh thì tốt đẹp nhất, giàu có và quyền cao chức trọng, ở Thìn Tuất tốt hơn Sửu Mùi. Tử Tham Mão Dậu đồng cung với Hỏa Linh thì cũng đẹp nhưng kém tốt hơn hai trường hợp trên). Tham Lang Tí Ngọ tuy hãm nhưng gặp Hỏa Linh đồng cung cũng khá. Riêng Liêm Tham tại Hợi thì gặp Hỏa Linh thì cũng còn tốt nhưng kém nhất trong các trường hợp trên. Nếu gặp xấu thì do tác họa của Liêm Trinh hãm địa chứ không phải là do Tham Lang. Liêm Tham tại Hợi có Hỏa Tuyệt đồng cung Hình hội họp thì có uy quyền danh tiếng. Có người cho rằng cho là Liêm Tham đồng cung tại Hợi thì gặp Linh Tuyệt hội họp đồng cung thì là người nghèo khó, và nếu gặp Kình Dương Không Hư Mã thì cả đời nếu không chết sớm thì cũng cô đơn bần hàn


Liêm Trinh, Thất Sát, Phá Quân, Cự Môn hãm địa rất kỵ gặp Hỏa Linh hãm địa, ngoại trừ trường hợp Liêm đồng cung với Tham tại Tỵ Hợi (do ảnh hưởng của Tham Lang), Phá đồng cung với Vũ tại Tỵ Hợi (do ảnh hưởng của Vũ Khúc) thì không xấu. Hỏa Linh hãm cũng kỵ gặp Kình Dương hãm hoặc Thiên Hình hãm. Hỏa Linh hãm gặp thêm Không Kiếp hãm địa thì càng nguy khốn. Kình Dương đắc địa có Hỏa Linh đồng cung thì rất tốt. Kình Dương Hỏa Tinh tọa thủ đồng cung tại Tứ Mộ thì uy quyền xuất chúng, TVT cho rằng Mệnh có Kình Dương Hỏa Tinh tọa thủ đồng cung thì có uy quyền khiến mọi người nể sợ, tuổi Thìn Tuất là thuợng cách, tuổi Sửu Mùi là thứ cách (chú ý tuổi Thìn Tuất Sửu Mùi thì hợp với Kình Dương)Nếu lại gặp thêm Tham, Vũ đồng cung thì danh tiếng lừng lẫy khiến quân giặc ở biên cương phải khiếp sợ .

Hỏa Linh hãm kết hợp với Kình Dương hãm thì gia tăng sự xấu xa. Mệnh có Hỏa Linh Kình hãm hội họp thì hạ cách, công danh trắc trở, tiền bạc thiếu thốn và hay mắc tai nạn. TVT cho rằng Mệnh mờ ám xấu xa lại gặp Kình Linh tọa thủ thì cuộc đời khổ sở, nghèo khổ, không thể quí hiển, nhất là nữ giới tối kỵ cách này
Hỏa Linh hãm gặp Mã thì đề phòng hỏa hoạn hoặc bị phỏng tay chân (Hỏa Linh miếu gặp Mã thì gọi là Chiến binh Mã, là cách vẫy vùng mọi nơi)
Hỏa hãm, Hình, Thiên Mã thì gặp nguy hiểm, bị hình thương về tay chân như bị phỏng
Mệnh hay Tật Ách có Linh hãm gặp Mã Đà hay Kình thì có tật chân tay hoặc bị què tay cụt chân
Tật Ách hoặc hạn đến cung Tật Ách có Hỏa Linh hãm gặp Kiếp Không hãm thì họa đến liên miên
Linh, Hình hãm gặp Thiên Việt thì bị hình thương vì sét đánh
Mệnh Hỏa Hình hãm địa thì phải đề phòng tai nạn về lửa, bị phỏng
Đà La Địa Kiếp hãm hội họp mà còn gặp Linh hãm thi rất xấu
Tang Môn ngộ Hỏa hãm tại Điền hoặc hạn thì bị hỏa tai (cháy nhà)
Hỏa Linh hãm, Long Trì, Mộc Dục hội họp thì phải đề phòng tai nạn về lửa, bị phỏng nước sôi
Hạn gặp Linh Xương ở Thìn Tuất thì đi đến đường cùng phải nhảy sông tự tử hoặc phải đề phòng tai nạn sông nước. TVT cho rằng hạn gặp Linh Xương ở Thìn Tuất, người tuổi Nhâm, Tân, Ất nên đề phòng tai nạn sông nước
Tử Tức có Thai ngộ Hỏa Linh hãm thì sinh quái thai
Mệnh có Đào Hồng gặp Không Kiếp Đà Linh hãm thủ chiếu thì chết non


Nhật Nguyệt gặp Hỏa Hình hãm thì thân hình gầy gò, ốm yếu, mình hạc sương mai
Nhật Nguyệt hãm địa gặp Đà La, Linh Tinh, Hóa Kỵ đều hãm thì bị mù mắt, mắt mờ
Phá Quân Hỏa Linh đều hãm địa ở cung Mệnh hay Thân thì bán sạch của cải do tổ tiên để lại
Liêm Phá tại Dậu hãm địa gặp Hỏa Tinh hãm địa đồng cung thì tự tử, thắt cổ, đâm đầu xuống sông mà chết.
Liêm Sát đồng cung ngộ Hỏa hãm hoặc Phá Liêm hãm ngộ Hỏa hãm thì bị hỏa tai (tai nạn về lửa) hoặc bị cháy nhà
Liêm Trinh hãm địa (tức là Liêm Phá Mão Dậu, Liêm Tham Tỵ Hợi) gặp Kình Đà Linh Hỏa hãm thì hay mắc tù tội và thường bị đói khát khổ sở. Riêng Liêm Tham Tỵ Hợi nếu có Hỏa hay Linh thủ đồng cung thì cũng tốt, chỉ sợ Hỏa Linh hãm chiếu mà thôi
Liêm Trinh hãm gặp Tứ Sát (Kình Đà Hỏa Linh) hãm thì hay bị bắt bớ giam cầm


Thất Sát hãm gặp Tứ Sát (Kình Ðà Hỏa Linh) thì hoặc có tật ở lưng như bị gù lưng, hoặc hay bị chết trận
Thất Sát hãm địa gặp Hỏa tinh và Kình hội họp thì là người nghèo hèn
Hạn gặp Thất Sát Kình Dương Linh Tinh và Lưu Bạch Hổ thì phải gian nan về hình ngục


Phá Quân Thìn Tuất gặp Kình, Đà, Hỏa Linh thì là kẻ gian trá, gian phi trộm cắp
Mệnh có Phá Quân hãm gặp Hỏa Linh hãm hội họp thì bôn ba nay đây mai đó, lao khổ, bán sạch của cải do tổ tiên để lại


Quan Lộc có Phá hãm địa gặp Hao Kình Linh thì ly hương ăn xin tại xứ người
Mệnh có Phá Quân hay Thất Sát rất sợ gặp Hỏa, Hao, Việt, Hình hội họp, về già khó tránh được tai nạn khủng khiếp


Mệnh có Cự Hỏa, Linh đều hãm gặp hạn xấu thì chết đường, chết xa quê hương
Cự Hỏa Kình Dương hội họp khi gặp hạn xấu thì tự tử như thắt cổ mà chết
Cự Môn Hỏa Kình Ðà hội họp gặp thêm ác tinh thì tự tử như gieo mình xuống sông tự tử hoặc thắt cổ
Cự Môn gặp Tứ Sát (Kình Ðà Hỏa Linh) thì cuộc đời vất vả, dễ mắc ác tật hoặc phải bị tai nạn, theo TVT thì tai nạn về máy móc


Cơ Nguyệt Đồng Lương tối kỵ Hỏa Linh hãm địa xâm phá (giảm tốt rất nhiều)
Thiên Cơ hãm gặp Hỏa Linh thì bị ngớ ngẩn như bị ma ám ảnh, tà ma nhập
Thiên Lương có Hỏa chiếu thì gặp tai ương làm hại người hại của


Nói chung khi giải đoán thì linh hoạt, tùy theo ý nghĩa sao đi kèm mà luận giải, ví dụ như Liêm Trinh hãm địa là tù tinh, gặp Hỏa Linh thì liên quan đến tù tội, Phá Quân là hao tinh, gặp Hỏa Linh hãm thì hao tán, tan cửa nát nhà, nghèo khổ. Thất Sát là sát tinh, gặp Hỏa Linh thì mắc tai nạn, Cự Môn là ám tinh, gặp Hỏa Linh thì mọi sự trục trặc, lâm vào chỗ cùng quẫn. Kình Dương hóa khí là Hình. Hỏa Linh gặp Kình hãm hoặc Thiên Hình thì bị hình thương, có Thiên Mã thì liên quan đến chân tay...


Các câu phú về Hỏa Linh
Linh Hỏa miếu thì là người can đảm dũng mãnh có chí khí hiên ngang, tuổi Dần Mão Tí Ngọ có cách này gặp nhiều sao sáng sủa tốt đẹp hội họp thì làm nên vinh hiển, giàu sang và thường hoạnh phát về võ nghiệp
Linh Hỏa miếu vi nhân đại đởm (2)


Cung Mệnh có Hỏa, Linh đắc địa thì can đảm, dũng mãnh. Tuổi Dần Mão Tí Ngọ có Hỏa Linh đắc địa tọa thủ đồng cung hoặc một tọa thủ, một chiếu là thuợng cách, nếu được nhiều sao sáng sủa tốt đẹp hội họp thì được hưởng phúc sống lâu, giàu sang trọn đời
Hỏa Linh vượng cung diệc vi phúc luận (1)


Hỏa Linh cần phải đắc địa thì tài ba xuất chúng, thường hiển đạt về võ nghiệp, có uy quyền danh tiếng
Hỏa Linh tương ngộ (hội họp), đa trấn chư bang (6, TTL)


Hỏa Linh hãm địa thì xấu, gây ra sự chảng lành, nhưng đắc địa thì không đáng lo ngại
Hỏa Linh chuyên tác họa (TTL)


Hỏa Linh giáp Mệnh thì xấu, thường phải lang thang bôn tẩu phương xa, cuộc đời không được xứng ý toại lòng. Chú ý rằng chỉ có cung Tí Ngọ hoặc Dần Thân mới có cách giáp
Hỏa Linh giáp Mệnh vi bại cục (18, TTL)


Hỏa Linh với Phụ Tinh
Mệnh có Hỏa Linh Kình hãm địa hội họp thì hạ cách, công danh trắc trở, tiền bạc thiếu thốn và hay mắc tai nạn
Hỏa Linh Kình Dương vi hạ cách (TTL)


Mệnh có Linh Mã gặp Kình hay Đà thì chân tay bị tàn tật. Theo TTL thì Linh Mã cần đồng cung
Linh phùng Mã, nhi ngộ Kình Đà, hữu tật tứ chi (TTL)


Mệnh có Linh Hỏa Riêu hãm hội họp thì bụng dạ yêu ma
Linh Hỏa gặp Thiên Riêu đất hãm,
Ấy mình hay bụng dạ yêu ma (B108)


Mệnh, hạn có Hỏa Linh, Long Trì, Mộc Dục thì phải đề phòng tai nạn về lửa và nước sôi
Hỏa Linh Trì (Long Trì) Mộc (Mộc Dục) sáng soi,
Lánh mình lửa cháy nước sôi chớ gần
Hỏa, Trì (Long Trì) Mộc Dục thấy liền,
Nước sôi lửa cháy phải khuyên giữ mình (B111)
Hỏa Linh Long Mộc (Mộc Dục) một nhà,
Lánh mình lửa cháy cùng là nước sôi


Mệnh Thân đồng cung an tại Tỵ Ngọ hoặc Hợi VCD rất sợ gặp Mã Hình Linh Kiếp hội họp ví như hoa nở đã gặp mưa gió vùi dập nên rất xấu xa, nếu giàu sang thì chết sớm, nghèo hèn thì sống thọ
Mệnh Thân đồng tọa như Hỏa cung hoặc lâm Hợi địa đồng cung VCD khủng kiến Mã Hình Linh Kiếp thủ chung hoa khai ngộ vũ, mãn thế phi bần tắc yểu (23)


Mệnh có Đào Hồng Không Kiếp Đà Linh thủ chiếu thì chết non
Nhan Hồi yểu tử do hữu Đào Hồng Không Kiếp Đà Linh thủ Mệnh (19)
Nhan Hồi yểu tử (chết yểu) do hữu (do có) Kiếp Không Đào Hồng Đà Linh thủ Mệnh (8, TTL)


Mệnh có Kình Đà Hỏa Linh hội họp nếu gặp nhiều sao sáng sủa thì có tài lộc, gặp nhiều sao mờ ám xấu xa thì cùng khổ, hoặc mắc tai họa mà chết thảm thương
Kình Đà Hỏa Linh hội họp phùng cát phát tài, hung tắc kỵ (18, TTL)


Mệnh an tại Tứ Mộ có Kình Dương Hỏa Tinh tọa thủ đồng cung thì có uy quyền hiển hách, nếu lại gặp thêm Tham hay Vũ đồng cung (Tham Lang Thìn Tuất, Tham Vũ Sửu Mùi) thì danh tiếng lừng lẫy khiến quân giặc ở biên cương phải khiếp sợ.
Kình Dương Hỏa Tinh uy quyền xuất chúng, đồng hành Tham Vũ uy yểm (uy áp) biên di (42, TTL, B75)


TVT giải rằng Mệnh có Kình Dương Hỏa Tinh tọa thủ đồng cung thì có uy quyền khiến mọi người nể sợ, tuổi Thìn Tuất là thuợng cách, tuổi Sửu Mùi là thứ cách (chú ý tuổi Thìn Tuất Sửu Mùi thì hợp với Kình Dương)
Dương (Kình Dương) Hỏa đồng cung, oai quyền áp chúng (16)


Mệnh có Kình, Đà, Linh, Hỏa hội họp thì có tật tại lưng hay bị gù lưng, nếu các sao trên lại hãm địa thì suốt đời cùng khổ cô đơn, hoặc bị chết một cách thê thảm
Kình, Đà, Linh, Hỏa thủ Thân Mệnh, yêu đà bối khúc chi nhân (17, TTL)


Kình Dương Hỏa Linh hãm địa thì rất xấu. TVT giải rằng Mệnh mờ ám xấu xa lại gặp Kình Linh tọa thủ thì cuộc đời khổ sở, nghèo khổ, không thể quí hiển, nhất là nữ giới tối kỵ cách này
Kình Dương Hỏa Linh vi hạ cách (24)


Đà La Địa Kiếp hãm hội họp mà còn gặp Linh Tinh thì rất xấu, gặp họa bất ngờ
Đà La Địa Kiếp (hãm) chiếu phương,
Linh Tinh lại gặp bất tường chẳng sai (12)


Mệnh Hỏa Hình thì phải đề phòng hình thương vì lửa, bị phỏng
Khôi, Xương ở Mệnh bậc lành,
Hỏa Hình đóng Mệnh giữ mình lửa than


Hỏa Linh ở vượng địa gặp Thiên Hình hãm gặp sát tinh thì càng thêm bần tiện
Hỏa Linh vượng cùng Hình xung hãm,
Mà Sát gia, bần tiện thêm càng (B102)


Mệnh hay Thiên Di có Mã gặp Hỏa hãm địa thì không nên đi xa bất lợi. TVT ghi thêm gặp Linh Tinh thì cũng vậy
Chích Hỏa (Hỏa Tinh) phần Thiên Mã bất nghi xuất hành (hay viễn hành) (15)
Hỏa ngộ Mã phải oan gia,
Lánh nợ lửa cháy mới hòa khỏi tai


Thiên Mã gặp Hình Hỏa thì nguy hiểm, bị phỏng về tay chân hoặc bị hình thương khi đi xa
Hình Hỏa kị phần Thiên Mã (B71)


Mã gặp Hỏa Linh đắc địa thì tung hoành ngang dọc
Mã ngộ Linh, Hỏa miếu cung,
Chiến Binh Mã ấy vẫy vùng nơi nơi
Mã ngộ Linh Hỏa miếu cung,
Chiến binh Mã ấy vẫy vùng mọi nơi



Hỏa Linh với Chính Tinh
Tử Vi cư Mão Dậu gặp Kiếp Không Kình Đà Hỏa Linh thì đa số là người tu hành, hoặc người có tâm tu hành thoát tục.
Tử Vi cư Mão Dậu gia Kiếp Không Tứ Sát (Kình Đà Hỏa Linh), đa vi thoát tục chi tăng (3)
Đây là câu phú của TVT, ghi thêm Tứ Sát nhưng thực ra Tử Tham gặp Hỏa Linh thì lại tốt thành ra cần xét lại câu phú này. Câu phú đúng là:
Tử Vi cư Mão Dậu gia Kiếp Không, đa vi thoát tục chi tăng (3)


Tử Vi Thất Sát tại cung Tỵ thì ví như vua mang kiếm báu tất nhiên có uy quyền và phú quí, gặp Hỏa Tinh, Tuyệt hội họp thì người khát máu, tàn nhẫn, hay giết người, nhưng lại gặp thêm Bật Khoa Mã Ấn Tràng Sinh, Hồng Loan thì lập được chiến công thần kỳ, là Ðại Tướng
Sát Tử (Tử Vi Thất Sát) Tốn cung (cung Tỵ) Ðế huề bảo kiếm, Hỏa (Hỏa Tinh) Tuyệt nhập xâm, đa sát chi nhân, hạnh ngộ Bật Khoa Mã Ấn Sinh Hồng di lập chiến công vi Ðại Tướng (TTL)


Tử Vi tại Ngọ có Linh Tinh chiếu hoặc Thái Âm tại Dậu, Thái Dương tại Ngọ có Khoa Quyền Lộc thì làm đến Công Hầu:
Ngọ Đế tọa Tuất Linh Tinh,
Nguyệt hoa Đoài (cung Dậu) Khảm (cung Tí), Nhật vành Chấn, Ly (cung Ngọ)
Lại thủ hợp củng vi Tam Hóa (Khoa Quyền Lộc)
Rõ Công Hầu xét rõ chẳng ngoa (B156)


Cơ Nguyệt Đồng Lương tối kỵ Hỏa Linh xâm phá (giảm tốt rất nhiều) (25)


Thiên Cơ hãm địa ở phương nào thì ở phương ấy có yêu quái Mộc tinh.
Thiên Cơ ngộ hãm chẳng hay,
Ở phương địa này hiện quái Mộc tinh
QXT ghi rằng Điền có Cơ ngộ Hỏa thì nhà bị cháy, có Không, Kiếp Mộc Dục ngộ Cơ thì có ma Mộc:
Thiên Cơ ngộ Hỏa chẳng hay,
Phùng Không, Kiếp Mộc nở đầy quải lưu (QXT)


Mệnh Thiên Cơ hãm gặp Hỏa Linh thì bị tà ma nhập làm ngớ ngẩn
Hỏa Linh ngộ hãm Thiên Cơ,
Hẳn trong Mệnh ấy có tà chẳng nên (NMB, VT)
Hỏa Linh ngộ hãm Thiên Cơ,
Hẳn trong Mệnh ấy có tà chứ không (4)


QXT thì cho rằng Mệnh Thiên Riêu hãm gặp Hỏa Linh thì bị tà ma nhập làm ngớ ngẩn
Hỏa Linh ngộ hãm Thiên Riêu,
Ắt trong Mệnh ấy có tà chẳng yên (QXT)


Nhật Nguyệt hãm địa gặp Đà La, Linh Tinh, Hóa Kỵ thì bị mù mắt, mắt mờ
Nhật Nguyệt ngộ Đà Linh chốn hãm,
Hóa Kỵ gia mục ám thông manh (49)


Nhật Nguyệt gặp Hình, Hỏa thì thân hình gầy gò, ốm yếu, mình hạc sương mai
Nhật Nguyệt nhi phùng Hình Hỏa, thân thiểu hạc hình (71)


TVT ghi là
Vũ Khúc Dương Đà kiêm Hỏa tú (Hỏa Tinh), táng mệnh nhân tài (21)
(Vũ Khúc gặp Kình Đà Hỏa Tinh thì chết vì tiền bạc. TVT giải rằng chết vì cướp của)
Thái Thứ Lang thì ghi như sau
Vũ Khúc Dương Đa kiêm Quả Tú, vị tiền nhi nguy (vì tiền mà nguy khốn đến thân) (TTL)
(Vũ Khúc hãm địa nghĩa là Vũ Phá Tỵ Hợi gặp Kình Đà Quả Tú thì chết vì tiền bạc.) Hai câu phú này cần xem lại


Vũ Khúc Phá Quân đồng cung tại Hợi, có Hỏa Tinh, người tuổi Giáp, Kỷ, Nhâm thì giàu có
Hợi cung Vũ Hỏa trùng lai,
Người sinh Giáp Kỷ Nhâm thời phú gia (HC)


Đồng Lương thủ đồng cung gặp Khôi Quyền Linh Kỵ Song Lộc kinh doanh rất giỏi, làm giàu dễ dàng. Chú ý chỉ có tuổi Đinh Đồng Lương cư Dần mới gặp Song Lộc Quyền Khoa và Khôi nhị hợp trong đó Đồng Lương Thiên Quan Quốc Ấn Hóa Quyền bị Triệt
Đồng Lương viên ngộ Khôi Quyền tăng phùng Linh Kỵ giao lai Song Lộc doanh thương dị phát phú (19, TTL)
Đồng, Lương, Linh, Kỵ Quyền, Khôi,
Lại gia Song Lộc hoạch tài phú thương (HC 60)


Liêm Trinh gặp Tứ Sát (Kình Đà Hỏa Linh) thì hay bị bắt bớ giam cầm
Liêm Trinh Tứ Sát (Kình Đà Hỏa Linh) tao hình lục (17, TTL)


Liêm Sát gặp Hỏa Tinh thì tai nạn về lửa, có người cho là bị cháy nhà. Tham Lang gặp Riêu Kỵ thì bị chết đuối
Mấy người thủy ách (bị chết đuối) hỏa tai,
Sát Liêm ngộ Hỏa, Riêu ngồi Kỵ Tham (10)
Mấy người thủy ách hỏa tai,
Sát Liêm ngộ Hỏa, Riêu ngồi Kỵ Tham
Hỏa tai, thủy ách lắm phiên,
Bởi Liêm Sát Hỏa, Riêu cùng Kỵ Tham
Hỏa tai, thủy ách nhiều lần,
Bởi Liêm Sát Hỏa, Riêu cùng Kỵ Tham
QXT và VT thi ghi như sau có lẽ không đúng
Mấy người thủy ách hỏa tai,
Phá, Liêm ngộ Hỏa, Riêu ngồi Kỵ, Tham (QXT)
Mấy người thủy ách hỏa tai,
Phá Liêm bị Hỏa tinh ngồi Kỵ, Tham (VT)


Liêm Phá cư hãm địa (tại Dậu) gặp Hỏa Tinh hãm địa đồng cung thì tự tử, thắt cổ, đâm đầu xuống sông mà chết. Có hai trường hợp là Liêm Phá tai Dậu và Liêm Tham tại Hợi vì tại hai cung đó Hỏa Tinh hãm
Liêm Trinh, Phá Quân Hỏa Tinh cư hãm địa, tự ải đầu hà (TTL)


Liêm Trinh hãm địa (tức là Liêm Phá Mão Dậu, Liêm Tham Tỵ Hợi) gặp Kình Đà Linh Hỏa thì hay mắc tù tội và thường bị đói khát khổ sở. Trường hợp Liêm Tham Tỵ Hợi thì cần phải Hỏa Linh hãm chiếu, không thủ
Tù (Liêm Trinh hãm địa) ngộ Kình Đà Linh Hỏa hữu già tỏa, thất cốc chi ưu (28, TTL)


Liêm Tham tại Hợi có Hỏa Tuyệt đồng cung Hình hội họp thì có uy quyền danh tiếng
Hỏa Tinh phùng Tuyệt tại Hợi cung (Hỏa Tuyệt đồng cung tại Hợi), nhi ngộ Tham Hình, uy danh quán thế (TTL)
Hỏa cư Hợi ngộ Tuyệt đồng,
Tham, Hình củng hội, lẫy lừng uy danh (AB332)


Tham Lang Thìn Tuất hoặc Vũ Tham Sửu Mùi có Hoả hay Linh thì giàu có và quyền cao chức trọng, ở Thìn Tuất tốt hơn Sửu Mùi. TTL ghi Hỏa hay Linh đồng cung và ghi như vậy mới đúng
Tham Lang ngộ Hoả, Linh Tứ Mộ cung, hào phú gia tư, hầu bá chi quí (13, TTL)


Tham Lang Thìn Tuất hoặc Vũ Tham Sửu Mùi có Hoả Tinh thì danh tiếng lừng lẫy, phú quí tột bậc. TTL cho rằng Hỏa Tinh đồng cung. Theo TVT thì Mệnh an tại Thìn Tuất Sửu Mùi là thượng cách, tại Mão (Tử Tham tại Mão)là thứ cách, nếu gặp Kình Đà Không Kiếp thì vô vị
Tham Lang Hỏa Tinh cư miếu vượng, danh trấn chư bang (22, TTL)
Tham Lang Hỏa tú liệt hài,
Mộ cung là kẻ quyền oai hơn người
Thai Phụ, Xương, Tọa vinh phong (Thai Phụ, Xương, Tọa hội họp thì vinh hiển, được phong tặng)
Danh lừng phiên trấn (nổi tiếng) Mộ (Thìn Tuất Sửu Mùi) phùng Hỏa Tham (B156)
Tham Lang Hỏa tú (Hỏa Tinh) đồng viên,
Mộ trung tọa thủ (tọa thủ ở Tứ Mộ) uy quyền Tướng Khanh (B166)


Tham Lang Hỏa Tinh đồng cung thì hợp với người tuổi Giáp, Kỷ, Nhâm nhất
Còn như Tham Hỏa xung lâm,
Chỉ người tuổi Giáp, Kỷ, Nhâm hợp mà (B161)


Tham Lang gặp Hỏa hay Linh thủ đồng cung Tứ Mộ thì tốt đẹp, nếu có Kình Dương đồng thủ thì càng thêm uy quyền
Đất Tứ Mộ Hỏa Linh Tham Vũ,
Có uy quyền vị ngộ Kình Dương (B156)
Có người ghi sai như sau:
Đất Tứ Mộ: Hỏa Linh Tham Vũ,
Có uy quyền, chớ ngộ Kình Dương


Tham Lang Thìn Tuất hoặc Vũ Tham Sửu Mùi có Linh Tinh đồng cung thì hiển đạt về võ nghiệp và hưởng giàu sang, tuổi Mậu Kỷ thì có uy quyền đến tột bực. Theo TVT thì Tham cư Tí cũng được hưởng. Tuổi Mậu thì Tham cư Thìn có Tham Đà Hóa Lộc đồng cung, Hao, LNVT, Đường Phù chiếu, Tham cư Tuất có Hóa Lộc Đường Phù đồng cung, Kình Đà hãm, Thiên Trù, Hao chiếu, Vũ Tham cư Sửu có Khôi Quốc ấn, Hóa Lộc đồng cung bị Triệt, Lộc Tồn Lưu Hà Việt chiếu và Vũ Tham cư Mùi có Hóa Lộc Thiên Việt đồng cung, Thiên Quan Thiên Phúc tam hợp, xung chiếu có Khôi, Quốc Ấn bị Triệt. Tuổi Kỷ Tham tại Thìn có Quyền thủ, Hóa Lộc Khôi Việt Thiên Trù chiếu với Việt Thiên Trù bị Triệt, Tham tại Tuất có Hóa Quyền thủ, Song Lộc Lưu Hà Thiên Phúc Quốc Ấn chiếu, Vũ Tham tại Sửu có Lộc Quyền đồng cung, Đà Kình đắc, Thiên Quan Hao LNVT bị Triệt chiếu, Vũ Tham tại Mùi có Quyền Hóa Lộc Kình đắc đồng cung, Hao Đường Phù tam hợp
Tham (miếu vượng) Linh (Linh Tinh) tịnh thủ (đồng cung), tướng tướng chi danh (26, TTL)
Tham Linh tịnh thủ chẳng chơi,
Tài kiêm văn võ suốt đời vinh thân
Ấy là Mậu Kỷ sinh nhân,
Mệnh an Tứ Mộ có phần hiển vinh (B166)


Tham Linh miếu vượng (Tham Lang Thìn Tuất và Vũ Tham Sửu Mùi thì miếu vượng) thủ Mệnh thì rất quí, văn võ toàn tài, làm đến Tể Tướng.
Tham Linh thủ Mệnh miếu viên, tướng tướng chi quí (B66, 33)


Tham Lang cư Mão Dậu gặp Hỏa Tinh thì làm đến công khanh
Tham Lang cư Mão Dậu ngộ Hỏa (Hỏa Tinh) tắc công khanh (11)


Tham tại Hợi Tí lại giáp Kình Đà, Hỏa Linh, Không Kiếp thì suốt đời nghèo khó. Chú ý tại Hợi không có cách giáp Hỏa Linh, tại Tí mới có khả năng
Tham tọa Thủy cung (Hợi Tí) giáp biên Tứ Sát bần khổ chung thân (32, TTL)


Mệnh Sửu Mùi có Hỏa Linh thì tuy hãm địa nhưng không đáng lo ngại, gặp Tham Vũ đồng cung, Việt thì hiển đạt về võ nghiệp, hưởng phú quí, có uy quyền, nhưng nếu gặp thêm Địa Kiếp thì khó tránh tai họa về đao thương súng đạn
Hỏa, Linh khả tỵ Sửu Mùi, ưu ngộ Việt, Tham, Vũ, lai phùng Địa Kiếp, đao binh dị tác tai thương (TTL)
Linh Hỏa khả tỵ Sửu Mùi Việt Tham ưu ngộ lai phùng Kiếp diệu đao binh dị tác thương (5)


Liêm Tham đồng cung tại Hợi thì như mây không gặp gió, nghĩa là xấu, không có thời, gặp Tuyệt Linh Tinh hội họp (theo TTL thì đồng cung, điều này không đúng vì Tham Lang đồng cung với Hỏa Linh thì tốt, phải giải là Linh Tinh hãm chiếu) thì là người nghèo khó, và nếu gặp Kình Dương Không Hư Mã thì cả đời nếu không chết sớm thì cũng cô đơn bần hàn
Tham Liêm Càn Thượng (cung Hợi, nghĩa là Tham Liêm đồng cung tại Hợi) vân lập vô phong (mây không gặp gió) Tuyệt Linh ưu nhập, vi nhân bần khổ, nãi phùng Dương Nhận (nếu gặp Kình Dương) Kiếp Không Hư Mã chung thân phi yểu tắc cô bần (47, TTL)


Cự Môn gặp Tứ Sát (Kình Ðà Hỏa Linh) thì cuộc đời vất vả, dễ mắc ác tật hoặc phải bị tai nạn, theo TVT thì tai nạn về máy móc
Cự Môn Tứ Sát hãm nhi hung (35, TTL)


Mệnh có Cự Hỏa, Linh gặp hạn xấu thì chết đường, chết xa quê hương
Cự Hỏa, Linh phùng ác hạn tử ư ngoại đạo (37, TTL)


Cự Môn Hỏa Tinh Kình Ðà hội họp gặp thêm ác tinh thì tự tử như gieo mình xuống sông tự tử hoặc thắt cổ
Cự Hỏa (Hỏa Tinh) Dương Ðà phùng ác diệu, ải tử đầu hà (36, TTL)


Cự Hỏa Kình Dương hội họp thì tự tử như thắt cổ mà chết khi gặp hạn xấu
Cự Hỏa Kình Dương, chung thân ải tử (39)


Thiên Lương bị Hỏa tinh chiếu thì gây họa cho người hoặc của cải
Thiên Lương ngộ Hỏa chiếu qua,
Hại người hại của, thật là tai ương (B38)
Thiên Lương ngộ Hỏa chiếu lâm,
Hại người hại của, ầm ầm tai ương (QXT)
Thiên Lương gặp Hỏa chớ lầm,
Hại người hại của, mấy lần họa sinh


Thất Sát gặp Tứ Sát (Kình Ðà Hỏa Linh) thì hoặc có tật ở lưng như bị gù lưng, hoặc hay bị chết trận
Thất Sát trùng phùng Tứ Sát (Kình Ðà Hỏa Linh) yêu đà bối khúc (bị gù lưng), trận trung vong (24, TTL)


Thất Sát hãm địa gặp Hỏa tinh và Kình hội họp thì là người nghèo hèn, thường làm nghề đồ tể hay bán thịt
Thất Sát Hỏa Dương (Kình) bần thả tiện, đồ tể chi nhân (25, TTL)


Thất Sát hãm địa gặp Hỏa Linh vượng thêm Thiên Hình hãm thì nghèo khổ, bần tiện. Theo NMB thì Hỏa Linh ở vượng địa gặp Thiên Hình hãm gặp sát tinh thì càng thêm bần tiện
Hỏa Linh vượng cùng Hình xung hãm,
Mà Sát gia, bần tiện thêm càng (B102)


TTL ghi rằng tuổi Tân, Đinh Mệnh an tại Dần Thân gặp Hỏa Việt hội họp thì giỏi về máy móc, thường chuyên về kỹ nghệ , Chú ý tuổi Đinh không thể có Thiên Việt, chỉ có tuổi Tân thì còn hợp lý. Câu phú này cần phải xét lại
Dần Thân Phá Hỏa Việt lâm ư Tân, Ðinh tuế (tuổi Tân, Ðinh) cơ xảo tài hành (giỏi về máy móc, nên chuyên về kỹ nghệ) (TTL)


Mệnh có Phá Quân hãm địa gặp Hỏa Linh hội họp thì bôn ba nay đây mai đó, lao khổ
Phá Quân Hỏa Linh bôn ba lao toái (21, TTL)


Mệnh Phá Quân Thìn Tuất gặp Linh Hỏa thì gian trá
Mệnh Thìn Tuất Phá Quân Linh Hỏa,
Rõ là người nết trá lòng gian (B109)


Phá Quân Thìn Tuất gặp Kình, Đà, Hỏa Linh thì là kẻ gian phi trộm cắp
Phá Quân ngộ Hỏa Linh Ðà Nhận (Kình Dương),
Lâm Tuất Thìn nết hẳn gian phi (18)


Quan Lộc có Phá hãm địa gặp Kình Dương, Hao, Linh thì ly tổ, bôn ba xứ người đi ăn xin
Phá (hãm địa) Hao Dương (Kình Dương) Linh, Quan Lộc (cư cung Quan) vi đạo xứ khất cầu (22)


Mệnh có Phá Quân hay Thất Sát rất sợ gặp Hỏa Tinh, Hao, Việt, Hình hội họp, về già khó tranh được tai nạn khủng khiếp
Phá, Sát (Thất Sát) khủng phùng (sợ gặp) Hỏa (Hỏa Tinh), Hao, mạc ngộ Việt Hình lão hạn qui thân họa nghiệp lai (25, TTL)


Hỏa Linh Phá Quân ở cung Mệnh hay Thân thì bán sạch của cải do tổ tiên để lại
Hỏa Linh Phá (Phá Quân) đương Thân, bại điền tài ư tổ nghiệp (B803)


Phá Liêm hãm ngộ Hỏa hãm thì khó tránh cái chết, bị chết không còn gì phải nghi ngờ
Phá Liêm ngộ Hỏa tử nghiệp vô nghi (B72)
Phá Liêm ngộ Hỏa, tử nghiệp vô nghi (15)


Hỏa Linh Dương Đà là bốn sát tinh, Đào Hoa gặp Thiên Cơ là người có duyên
Hỏa Linh Dương Đà vị chi Tứ Sát,
Đào phùng Cơ tú nhi hữu duyên (7)


Hỏa Linh tại các cung
Điền
Hỏa Tinh hãm tại điền trạch thì bị cháy nhà
Hỏa Tinh Điền Trạch độc hành,
Cửa nhà tiền bạc tan tành ra tro (AB332)


Điền Trạch có Tang Môn gặp Hỏa Tinh thì có lần bị cháy nhà
Tang Môn ngộ Hỏa (Hỏa Tinh) xấu sao,
Chiếu vào phương nào phương ấy hỏa tai (cháy nhà)
Tang Môn gặp Hỏa xấu sao
Hỏa tai cung ấy chiếu vào phải lo (B106)
Hỏa (Hỏa Tinh) lạc Tang Môn gia đinh hối lẫn (16)


QXT thì ghi là cung cung Tử Tức tại Dậu có Hỏa Linh Việt thì hiếm con, không con nối dõi
Linh Tinh, Việt, Hỏa, bên Đoài,
Gia trung hương hỏa kìa ai lạnh lùng (QXT, cung Tử Tức)


TVT thì cho là Điền tại Dậu có Hỏa Linh Thiên Việt thì không được hưởng hương hỏa để lại mà còn sinh tai họa
Linh Tinh Việt Hỏa đoài biên (cung Dậu),
Trạch trung (cung Điền Trạch) hương hỏa thất kiền sinh tai
Linh Tinh Việt Hỏa Đoài biên (cung Dậu)
Trạch trung hương hỏa thất kiền sinh tai (B40)


Cấn, Dần, Sửu, sao tàng Linh, Hỏa,
Con hồng tinh biến hóa cành cây (QXT, cung Diền)


Tật Ách
Hỏa Linh gặp Kiếp Không tại cung Tật Ách (Thiên Sứ luôn an tại Tật Ách) thì họa dến liên miên
Hỏa Tinh Linh Tinh chuyên tác họa, ngộ Kiếp Không Thiên Sứ họa trùng phùng (12)


Tật Ách có lục sát tinh thì khó sống lâu
Ách cung ác sát (Lục Sát Tinh) trùng phùng, khí âm lạnh lẽo chẳng cùng khí Dương (11)


Tật Ách có Linh gặp Mã Đà hay Kình thì có tật chân tay hoặc bị què tay cụt chân. Chú ý Thiên Sứ luôn an tại cung Tật
Linh phùng Sứ (Thiên Sứ) Mã nhi ngộ Dương Đà hữu tật tứ chi (13)


Tử Tức
Tử Tức có Hỏa Linh hãm địa thì đến già cũng không có con
Hỏa Linh hãm ư Tử Tức, đáo lão vô nhi khốc (14, B64)


Tử Tức có Hỏa Linh gặp Nhật Nguyệt hãm địa thì về già còn chưa có con
Bóng tà còn hiếm hào con,
Hỏa Linh Nhật Nguyệt hãm nhi môn (cung Tử Tức) mà phiền (B115)


Tử Tức tối kỵ gặp Linh Hỏa Hình Tang, mừng gặp Nhật Nguyệt tịnh minh thì về già thì mới sinh được con
Linh Hỏa Hình Tang tối hiềm Tử Tức, hạnh ngộ Nhật Nguyệt tịnh minh nam tử lão thành tất hữu (15)


Tử Tức có Thai ngộ Hỏa Linh thì bào thai kỳ quái, sinh quái thai hoặc con tàn tật
Tử cung Thai ngộ Hỏa Linh,
Bào thai những giống yêu tinh quỉ sầu (B49)


Hỏa Linh tại hạn
Hỏa Linh nhập hạn
Hỏa tinh đắc địa hạn cung phòng (phùng, VTL),
Hỷ khí doanh môn bách sự thông (hỉ khí đầy nhà, mọi sự hanh thông)
Sĩ hoạn phùng chi giai phát phúc, (VTL)
Thường nhân đắc thử tài phong long


Hỏa tinh nhất tú, tối quai chương (Hỏa Tinh hãm địa thì hung)
Vô sự quan tai náo nhất trường (VTL)
Khắc hại lục thân ưng bất miễn
Phá tài gian khổ miễn huy hoàng (sương hoàng, VTL) (QXT)


Hỏa chiếu nhị tinh sự nhược hà
Tham Lang tương hội phúc hoàn đa
Cánh gia cát diệu, đa quyền bính
Phú quí thanh danh, xứ xứ ca (QXT)


Hỏa, Linh hạn hãm, huyết nùng xâm (bệnh về máu)
Tầm thường thất thoát, bất khả tầm
Khẩu thiệt quan tai, ưng bất miễn
Tu phòng vô vọng họa lai xâm (QXT)


Linh Tinh nhập hạn
Hạn chí Linh Tinh sự nhược hà
Tham Lang tương phúc hoan đa (hoàn đa, VTL)
Cánh gia nhập miếu phùng chư cát
Phú quí thanh danh xứ xứ ca (QXT)


Linh tinh nhất tú bất khả đương (Linh Tinh hãm địa thủ hạn)
Thủ lâm nhị hạn tất điên cuồng
Nhược vô cát diệu lai tương chiếu
Vị miễn chiêu tai, nặc họa ương (tai ách liên miên) (QXT)


Mệnh, hạn có Hỏa Linh, Long Trì, Mộc Dục thì phải đề phòng tai nạn về lửa và nước sôi
Hỏa, Trì (Long Trì) Mộc Dục thấy liền,
Nước sôi lửa cháy phải khuyên giữ mình (B111)
Hỏa Linh Long Mộc (Mộc Dục) một nhà,
Lánh mình lửa cháy cùng là nước sôi
Hỏa Linh Trì (Long Trì) Mộc (Mộc Dục) sáng soi,
Lánh mình lửa cháy, nước sôi chớ gần (8)


Hạn có Hỏa Linh hãm gặp Mã thì đề phòng hỏa hoạn
Hỏa Linh ngộ Mã oan gia,
Đề phòng hỏa hoạn mới là khỏi tai (9)


Hạn gặp Linh Xương ở Thìn Tuất thì nên phải nhảy sông tự tử hoặc phải đề phòng tai nạn sông nước. TVT giải rằng hạn gặp Linh Xương ở Thìn Tuất, người tuổi Nhâm, Tân, Ất nên đề phòng tai nạn sông nước
Linh Xương La Võng hạn chí đầu hà (10)


Mệnh có Kình Linh mà hạn gặp Lưu Bạch Hổ thì tai nạn tang thương rất xấu
Dương (Kình Dương) Linh (Linh Tinh) tọa Mệnh, lưu niên Bạch Hổ tai thương (19)


Mệnh Cơ Âm tại Thân mà hạn gặp Liêm Hổ Linh Riêu thì dễ bị xẩy thai, gặp Địa Kiếp Thiên Hình thì khó tránh khỏi tù tội nhưng nếu gặp Khoa, Phượng thì giải nạn được
Cơ Âm Thân xứ (Mệnh Cơ Âm tại Thân), vận phùng (hạn gặp) Liêm Hổ Linh Riêu nan bào thai nhi (xẩy thai) gia Kiếp Hình xâm lao tù ưu khốn (khó tránh khỏi tù tội), hạnh phùng Khoa Phượng nạn tiêu (gặp Khoa Phượng thì giải nạn được) (30)


Hạn gặp Thất Sát Kình Dương Linh Tinh và Lưu Bạch Hổ thì phải gian nan về hình ngục
Thất Sát Dương (Kình Dương) Linh, lưu niên Bạch Hổ (hạn gặp Bạch Hổ), hình ngục tai truân (26)


TVT cho rằng Mệnh có Kình Hỏa đồng cung hạn gặp Linh Phá Kình lưu niên thì phải sa sút nghèo hèn hoặc bị cách chức hay giáng chức. Cần xét lại câu phú
Dương Đà lưu niên Linh (Linh Tinh) Phá (Phá Quân) điền tu ban lãng nhật Kình Hỏa vi hạ cách (21)


Hàn Tín có Mệnh Liêm Tướng tại Ngọ, hạn gặp La Võng Ðà La Tham Linh nên chết vì bị xử chém
Mệnh đắc Tướng Liêm Hạn phùng (hạn gặp) La Võng Ðà La Tham Linh, Hàn Tín thọ tử đao hình (chết vì bị chém) (19)


Hạn phùng Phú Tướng kiêm hữu Việt Linh tu phòng lo khốn (gặp Thiên Việt Linh Tinh đề phòng đi xa có hại, gặp nguy

Thứ Bảy, 2 tháng 7, 2022

Vậy là VCD ko hề có trong vấn đề phủ tướng triều viên


 


Có bao nhiêu trường hợp Vô Chính Diệu? Có 24 trường hợp Vô Chính Diệu. 

Ta có thể tóm gọn như sau.

Vô Chính Diệu có NHẬT NGUYỆT hội họp (miễn sao có 2 sao này tam hợp như Vô Chính Diệu có CỰ ĐỒNG xung, một sao hợp một sao xung chiếu như Vô Chính Diệu có CƠ ÂM xung, Đồng Âm xung)

Vô Chính Diệu có THÁI ÂM xung (như CƠ ÂM, ÂM DƯƠNG xung)

Vô Chính Diệu có THÁI DƯƠNG xung ( CỰ NH ẬT)

Vô Chính Diệu có THIÊN LƯƠNG xung (như Cơ Lương, Đồng Lương,)

Vô Chính Diệu có THAM LANG xung (như Liêm Tham, Tử Tham, Tham Vũ)

Vô Chính Diệu có CỰ MÔN xung (như CỰ CƠ xung)

Có thể rút gọn xuóng còn 4 dạng Vô Chính Diệu có NHẬT hay NGUYỆT cả NHẬT NGUYỆT hội họp. Và quan trọng là NHẬT NGUYỆT sáng hay tối. Và 3 trường hợp khác là Lương, Tham, Cự xung.

Vô Chính Diệu là gì? Là không có chính tinh tại bản cung, như một ngôi nhà vô chủ, như một con người không có lập trường rõ ràng. Vì thế nó bị ảnh hưởng của chính tinh xung chiếu. Ta cần biết lá số TỬ VI vuông vức như bạn thấy, thực tế phải vẽ cho tròn trịa mới hợp lý nhưng vẽ tròn coi bộ khó quá. Thôi thì vẽ vuông vức cũng được miễn sao hiểu rằng: cung chính chiếu ngay trước mắt, như ngôi nhà đối diện bên kia đường nhà bạn. Cung Vô Chính Diệu không có chủ tất bên kia nhảy vào làm chủ ngôi nhà hoang.

Nhưng trong này còn có Bàng tinh như KÌNH DƯƠNG, KHÔNG KIẾP… nó đâu chịu? Bàng tinh chẳng qua là đồ dùng mà thôi. Toàn bộ chòm THÁI TUẾ là sao chỉ cá tính, trạng thái (tốt xấu) vui buồn. Chòm BÁC SỸ là đồ dùng, các sao khác chẳng qua là tình trạng, tình hình báo cho biết xấu tốt. Dùng được hay không dùng được, dùng sinh họa hay dùng sinh lợi các sao Hóa khí sẽ báo cho ta biết.

Ví dụ cũng KÌNH DƯƠNG là cây viết, cây viết sẽ viết trên tờ giấy ra văn phẩm XƯƠNG KHÚC, nếu không có, đành chờ đáo hạn XƯƠNG KHÚC đem ra sử dụng (khổ nổi có người đem theo có người thấy không dùng được vất đi rồi).

KÌNH DƯƠNG không còn là viết thì có thể là dụng cụ nhà nông như cuốc, mai… công cụ như dao… có điện, lửa chớp chớp biến thành vũ khí (ngày xưa múa gươm, vũ khí nói chung ánh sáng lấp loáng). Giải thích như vậy để bạn hiểu Bàng tinh như là công nhân. Chính tinh như một chủ nhân. Nhìn công nhân ta biết chủ nhân. Công nhân trồng chè tức chủ nhân là nhà nông nghiệp, chẳng lẽ một Văn sỹ (có chăng mới bỏ nghề). Nhìn Bàng tinh ta khẳng định vai trò Chính tinh. Như TỬ VI là ngôi sao hành động, hành vi, gánh vác trách nhiệm… gìn giữ biên cương với cây súng trong tay, đích thị là trách nhiệm rồi. Chăm sóc một ngôi trường, một lớp học cũng là trách nhiệm, cho đến chăm sóc quán hàng riêng tư cho gia đình cũng là trách nhiệm với gia đình và khách hàng. Vấn đề còn lại là trách nhiệm với ai. Từ chỗ đó đoán được chân tướng TỬ VI.

Những lập luận trên cho thấy Vô Chính Diệu chấp nhận Chính tinh một cách dễ dàng. Trong khi mình không có chủ nhân nên mong chờ người khác đến làm chủ. Vì thế có câu ”MỆNH Vô Chính Diệu bất minh…” (bất minh không minh bạch rõ ràng, hôm này thế này mai thế khác) sẵn sàng tiếp thu những chính tinh khác khi đáo hạn khác. Một người có chính tinh tại MỆNH như PHÁ QUÂN gặp hạn CỰ MÔN nó suy nghĩ khác, một phá gặp một phản… thì dễ làm phản. Nhưng Vô Chính Diệu gặp Cự cũng chỉ ngang mức cự mà thôi.

Vô Chính Diệu lấy cung xung chiếu mà luận đoán. Vì tại bản cung không có chính diệu nào tọa thủ đương nhiên 2 chính tinh nầy xâm phạm vào cung MỆNH. (chúng ta đang ở trên một vòng tròn gọi là Thiên Bàn, cung xung chiếu đi ngang đường thẳng đi qua tâm, cắt 2 nửa vòng tròn bằng nhau y như trong toán học). Ví von cho dễ hiểu Vô Chính Diệu như người không cha, không mẹ chịu tác động bên ngoài vậy, như tờ giấy trắng bên ngoài viết chi cũng được. Nếu ta có chính tinh tức sẽ có 2 trường hợp tương thích hoặc đối kháng với chính tinh bên ngoài. Đằng nầy không có chính tinh, chỉ có bàng tinh tức chịu sự chỉ huy dẫn dắt bên ngoài, dễ thích nghi với hoàn cảnh bên ngoài. Ngay như Khổng Minh Vô Chính Diệu cũng bị Lưu Bị dẫn đi. Ví dụ như vậy cực kỳ dễ hiểu, Vô Chính Diệu tam phương tốt nhất định là tốt, còn ngon lành hơn có chính tinh mà nó không chịu hợp tác với nhau. Như nhóm SÁT PHÁ THAM tại MỆNH cực kỳ vất vã mới như ý muốn.

* Ngoài ra luận theo ngũ hành để luận đoán MỆNH phù hợp với chính tinh nào. Ngay cả có chính tinh cũng luận theo ngũ hành để đoán. Người ta cho mỗi sao mỗi hành đâu phải để mà chơi. Đừng đem cái hành của ngôi sao ấy lý luận với cung, với sao đi với nó, đây là sai lầm dễ phạm phải rồi lúng ta, lúng túng tìm cách giải thích trẹo cả lưỡi, chính bản thân mình không hiểu lấy đâu người khác hiểu. Cho nên, chắc gì có TỬ VI tại MỆNH mà mang được trọng trách của TỬ VI.

* Nếu được diện kiến với người có lá số, hoặc biết được cá tính người ấy. Vấn đề tương đối dễ dàng là nghiệm chứng qua hình dáng cá tính. Ngay cả với có Chính tinh thủ MỆNH chứ đừng nói Vô Chính Diệu. Ta cần phân loại Vô Chính Diệu như đã nêu trên, đi sâu vào cần phân loại tiếp.

TUẦN TRIỆT và Vô Chính Diệu.

Nếu như MỆNH có TUẦN hay TRIỆT hay dở phức tạp tùy thuộc chính tinh tại bản cung có thích Tuần hay Triệt không. Như TỬ VI kỵ gặp các sao này. THAM LANG thì ưa.

Cần biết Tuần Triệt có những đặc tính hay. Như Phòng Trừ , Vâng lời đi cả bộ là tuân thủ triệt để, giáo dục, hiểu biết, tiếp thu và loại trừ …. Cho nên Vô Chính Diệu đắc TUẦN hay TRIỆT án ngữ ngay bản cung để tiếp thu và loại trừ. Nhưng không phải Vô Chính Diệu nào cũng cần đến TUẦN TRIỆT nhất là Vô Chính Diệu có Cự Cơ xung. Phúc Đức cung Vô Chính Diệu cũng kỵ TRIỆT Vì là Phúc Đức không thể loại trừ được. Có câu: “Phúc Vô Chính Diệu tu cần KHÔNG tú (Tuần) Kỵ ngộ TRIỆT tinh”

* Bản thân TUẦN, TRIỆT cũng là sao cho nên khi Vô Chính Diệu có 2 sao nầy giá trị như không còn là Vô Chính Diệu nữa. Vì tôi có TUẦN đây, tôi có TRIỆT đây. Uy lực của nó chế ngự cat 2 cung. Nếu không có 2 sao nầy đích thị là Vô Chính Diệu. Vô Chính Diệu có 2 sao nầy là may mắn, nhưng có chính tinh tốt đẹp xung chiếu lại kỵ TUẦN TRIỆT là điều cay đắng. Nhưng thôi, dẫu sao nó cũng được gọi chung là Vô Chính Diệu.

* Trong trường hợp MỆNH đã Vô Chính Diệu, THÂN cũng lại Vô Chính Diệu. Ta có 2 trường hợp

A MỆNH TRIỆT THÂN TUẦN.

B MỆNH TUẦN THÂN TRIỆT.

C. MỆNH (TUẦN hay TRIỆT) THÂN có chính tinh.

D. MỆNH Vô Chính Diệu không có Tuần hay Triệt. THÂN cũng Vô Chính Diệu.

Cả 2 đều Vô Chính Diệu. Trường hợp A hay hơn là B. Vì MỆNH có thể TRIỆT nhưng THÂN không thể TRIỆT được (vì nó là thân xác, thân phận… TRIỆT đi dễ trở thành phế nhân…)

Cho nên có câu:

“Mệnh TRIỆT, Thân TUẦN tu cần vô hữu chính tinh. Vãn niên vạn sự hoàn thành khả đãi.”. Tuổi càng cao càng dễ thành công.

Trường hợp B có thể ngoan hơn nhưng chưa biết số phận về đâu.

C là trường hợp MỆNH Vô Chính Diệu có TUẦN, hay TRIỆT. Cung an Thân có Chính tinh, luận theo chính tinh ấy tốt xấu tùy thuộc đắc hãm. Đừng quên rằng cung an Thân nó quan trọng hơn cung MỆNH. Lấy câu "MỆNH hảo bất như THÂN hảo. Thân hảo bất như Hạn hảo" (MỆNH tốt không bằng THÂN tốt. THÂN tốt không bằng Hạn tốt). MỆNH chỉ là ý chí mà thôi. Thân hình hài cần phải khỏe mạnh, tốt đẹp. Mượn tạm hình ảnh nhà bác học ngồi xe lăn bên Mỹ để lập luận. Ví như ông ta là người MỆNH tốt mà THÂN xấu.

Trường hợp D phải kể là xấu. Vì yếu tố phòng trừ không có.

Tiếp là MỆNH Vô Chính Diệu nhưng không có TRIỆT hay TUẦN. xem ở dưới

Vô Chính Diệu nhưng không có TUẦN hay TRIỆT án ngữ:

* Lại có Hung Tinh tọa thủ ta gọi là Hung tinh độc thủ. Có Cát tinh ta gọi Cát tinh tọa thủ. Như Vô Chính Diệu KÌNH DƯƠNG độc thủ, Vô Chính Diệu THIÊN HÌNH độc thủ, VĂN XƯƠNG độc thủ nếu thấy cả 2 ta gọi XƯƠNG KHÚC tọa thủ. Kết hợp với chính tinh bên ngoài mà luận đoán, quan trọng là có phù hợp hay không

Vô Chính Diệu lại không có bộ Phòng Trừ tọa thủ bản cung bị đánh giá chung là xấu, là không an toàn. Chư a chắc đã xấu ví dụ có TỬ VI xung bên trong ta có TRIỆT ông TỬ VI không dám vào giúp đỡ. Như vậy khó tìm ra một công thức chung, mẫu số chung cho các trường hợp Vô Chính Diệu.

MỆNH Vô Chính Diệu có yểu không?

“Mệnh VCD phi yểu chiết nhi hình thương”. Phi yểu chiết nhi hình thương là sao? Không yểu MỆNH cũng thương tật.

Mệnh VCD có thể rất yểu, Mệnh VCD phải vay mượn chính tinh bên ngoài nhưng đôi khi chính tinh không phù hợp với bản Mệnh, như Mệnh Hỏa mà chính tinh lại Thủy. Mệnh VCD cung an Thân cũng VCD, đây cũng là lý do rất dễ yểu.

Mệnh VCD vay mượn chính tinh bên ngoài, mạnh nhất là NHẬT NGUYỆT hội chiếu nhưng cùng lúc cả 2 chính tinh nầy đều ngộ TUÀN TRIỆT thành ra hoàn cảnh quá tối tăm. Đó cũng là lý do yểu.

Mệnh VCD lại có Sát tinh nhập Mệnh. Đây cũng là trường hợp yểu.

Cho nên câu Mệnh VCD không yểu cũng hình thương cũng không phải câu nói quá đáng. Vì vậy để tăng thọ cho cách nầy người ta cho rằng:

“Mệnh VCD nhị tinh diên sinh”

Tức là thay đổi tên họ, thọ cao. Khi thay tên đổi họ tức thì cái tên ấy, danh tính ấy đã chết đi tức là chết cái tên, cái danh, cái họ chứ bản thân không chết. Điều nầy nghe có vẽ như là vô lý phản khoa học phải không? Mắc chi thay cái tên, cái họ lại thọ. Vô lý quá. Vâng có lẽ vô lý thật nhưng nếu bạn là người Do Thái ở vào thời điểm Đức Quốc Xã cai trị, bạn có cho rằng thay đổi được tên họ tất thị được sống. Đúng quá phải không? Nếu bạn là Bin La Den (hoặc ở vào hoàn cảnh na ná) trong tay bạn hiện có nhiều thẻ thông hành phải không? Nếu có bộ râu truyền thống tôi cũng e rằng: râu giả? Thậm chí bạn còn muốn Bin La Den giả chết để Bin La Den thật sống. Vậy thì chuyện thay tên đổi họ mà thọ không có chi là huyền bí hết, tuổi thọ lại cao. Những người hoạt động chính trị vài ba chục tên giả là chuyện thường, thậm chí tên giả còn nổi danh hơn tên thật.

Ở đời, đôi khi có người không ưa cái tên, cái họ của bạn, chừng đó thôi cũng đủ chết. Chứ chưa nói đến có tư thù, tư oán... Bạn không hoài nghi việc bầu cử chỉ vì cái tên, cái họ, cái giới tính, cái nguồn gốc... gạch bỏ không thương tiếc một người có tài năng mà bạn chẳng chịu tìm hiểu. Vậy thì thay đổi tên họ có thể thay đổi cả vận mạng con người. Bạn đồng ý chưa? Biết đâu nhờ cái tên bạn vào phòng mổ sớm 1 tí mà được cứu sống, ngược lại bạn chết vì sự muôn màn.

Và nhìn những Nickname thì có những cái nghe thôi đà sinh bệnh. Lại đổi nickname, đổi nửa nhưng quan trọng là nên đổi cá tính đi.

Các văn sĩ không ai ép buộc chi, chỉ có kinh tế ép thôi. Đôi khi cũng thay tên đổi họ chuyển qua viết dạng ‘mì ăn liền’, dạng ‘bồi bút’, dạng ‘khêu dâm’...

Ngày xưa trùng húy với vua, buộc phải thay đổi danh tính. Thậm chí thân phụ của người viết, trùng tính với quan Thượng Thư mà buộc phải thay tên, nếu không thay tức hoạn lộ không bền, còn kéo theo mạng sống không bền. Thân phụ lại là người Mệnh VCD.

Mệnh VCD thọ.

Không có Hung Sát tinh hội họp hay độc thủ lại có các sao như:

THÁI TUẾ chủ người cao tuổi.

CÁO PHỤ chủ lời bảo ban của bậc cha ông, tức cùng hàm ý thọ.

Hoặc khi có THIÊN LƯƠNG thủ Thân và nhất là THIÊN LƯƠNG xung chiếu MỆNH, như các cách Vô Chính Diệu có ĐỒNG LƯƠNG, CƠ LƯƠNG, DƯƠNG LƯƠNG xung. Đó là nói tổng quát, chứ đừng vin vào đó, quan trọng là có phá cách không. Chính người viết đưa lá số Vô Chính Diệu có ĐỒNG LƯƠNG xung mà bị giết để làm mẫu đấy.

Vô Chính Diệu nào vẽ vang nhất.

Đó là các trường hợp Vô Chính Diệu có NHẬT NGUYỆT hội họp. Hoặc DƯƠNG LƯƠNG xung dù có hãm vẫn còn là tốt. Trường hợp Vô Chính Diệu tại Mùi có DƯƠNG LƯƠNG tại Mão và THÁI ÂM tại Hợi. Được xem như hay nhất. Vì sao Vô Chính Diệu có NHẬT NGUYỆT lại hay (hay là hay về công danh) vì NHẬT NGUYỆT là bộ sao: “Chính bất như chiếu, chiếu bất như giáp”. Cách THAM VŨ Sửu Mùi vốn đã hay còn hưởng thêm cách giáp NHẬT NGUYỆT được phê ‘phi vinh tắc phú” (không sang cũng giàu). NHẬT NGUYỆT ví như ngọn đèn pha chiếu lên sân khấu. Nhìn là nhìn nhân vật đứng trên sân khấu. Một người mà có 2 vầng NHẬT NGUYỆT chiếu vô MỆNH như vậy là quá đẹp. Được gọi là NHẬT NGUYỆT tất nó ưu tiên phát xạ so với các chính tinh khác. Bởi thế mới gọi nó là NHẬT NGUYỆT mặc dù người xưa thừa biết nó không phải mặt trăng, chẳng phải mặt trời nhưng đã ví nó như NHẬT NGUYỆT phải lý luận như NHẬT NGUYỆT thật sự. Biết bao câu phú ca ngợi cách này. Trường Hợp Vô Chính Diệu tại Sửu có cách kia vẫn còn hay mặc dù NHẬT NGUYỆT bị lạc hãm. Ví von dễ hiểu như là rạp hát ế khách chứ không phải là không có khách.

Nhưng chú ý Vô Chính Diệu có cả CỰ NH ẬT, ĐỒNG ÂM, CƠ LƯƠNG 6 sao cùng chiếu ồn ào hơn một cái chợ.

Đứng hạng nhì là trường hợp Vô Chính Diệu có THAM VŨ xung. Thực chất bên trong có bộ Phủ Tướng bên ngoài có THAM VŨ xung nên rất là hay.

VCD có SÁT TINH độc thủ:

Nếu có KÌNH DƯƠNG ta gọi là KÌNH DƯƠNG độc thủ, cũng vậy nếu có ĐÀ LA ta gọi là ĐÀ LA độc thủ, HỎA TINH độc thủ, LINH TINH độc thủ.

Dĩ nhiên có các Sát Tinh độc thủ không phải là hay, cần xét nó có đắc ý không, có phù hợpù hợp hay không? Nhất là KÌNH ĐÀ vì bản thân nó chưa hẳn là hung tinh.

VCD có ĐỊA KIẾP ta gọi là ĐỊA KIẾP độc thủ. Ví du: như câu:

“ĐỊA KIẾP độc thủ, thị kỷ phi nhân. THAM LANG độc cư đa hư thiểu thật”

VCD có lại thêm Mệnh Không Thân Kiếp.

“Mệnh KHÔNG Thân KIẾP lai hội SONG HAO. Vô Chính Diệu thiểu học đa thành.”

Đây cũng là trường hợp hiếm có, chỉ sinh tháng 10, phải có Song Hao, lại Vô Chính Diệu. Học ít thành nhiều. Thực tế người viết chưa gặp trường hợp này không dám kết luận. Song Hao đạt yêu cầu phải là tuổi Đinh Kỷ Quý mới hay.

CÁC CÂU PHÚ LIÊN QUAN:

“Mệnh Vô Chính Diệu đắc TAM KHÔNG hữu SONG LỘC phú quí khả kỳ”

Phú Quý Khả Kỳ là giàu sang một thời, chỉ một thời cũng vẽ vang lắm rồi. Vì trong cách này có chứa cách tam KHÔNG cho nên 3 cái không phải trả.

“Mệnh Vô Chính Diệu bất minh. PHỤ BẬT gia thủ đem mình ly tông”

Vì những lý do trên mà Mệnh VCD có lập trường không rõ ràng, không minh bạch. Trong tình huống đó có sự trợ giúp của PHỤ BẬT dĩ nhiên là dễ rời bỏ tổ tông, vì bật qua bên nầy không được, bật lại bên kia không xong, bật đi xa mơ hồ chưa biết thành bại, thường dễ làm người ta lựa chọn không cần phải là VCD mới lìa bỏ tổ tông, mà có chính tinh đi kèm cũng ưa lìa bỏ. Có câu: “TẢ, HỮU đơn lâm MỆNH viên ly hương sở nghiệp.” Vì tất cả các trường hợp có TẢ HỮU tại MỆNH, tức cung Phụ hay Huynh đều có sao HÌNH, chỉ một sao HÌNH này thôi, ở cũng không yên trong lúc luôn luôn có bạn bè, kẻ trên giúp đỡ Vô Chính Diệu lại càng mau đi nữa.

“Mệnh TRIỆT, Thân TUẦN tu cần vô hữu chính tinh. Vãn niên vạn sự hoàn thành khả đãi.”

Câu này nếu MỆNH TRIỆT, Thân TUẦN Vô Chính Diệu tuổi cao thành đạt, tức tuổi trẻ khó thành. Nhận xét chung trường hợp này có tính phòng bị thái quá.

“Thân Mệnh đồng cung Tí Ngọ hoặc cư tuyệt xứ. Vô chính tinh khủng kiến MÃ, LINH, HÌNH, KIẾP. Chung thân hoa khai ngộ vũ mãn kiếp phi yểu chiết nhi hình thương.”

Vô Chính Diệu Tại Tý Ngọ lại thêm Thân Mệnh đồng cung. Kỵ gặp MÃ LINH HÌNH KIẾP 4 sao này thấy tay chân tật nguyền rồi. Suốt đời như như đóa hoa nở gặp mưa gió dập vùi, không yểu cũng thương tật.

“Thân Mệnh đồng cung tối hiềm nhập mộ hoặc cư Tuyệt xứ. Vô Chính Diệu hoan phùng TẢ HỮU SINH VƯỢNG hoá hung vi cát chung thân vượng hưởng phúc tài.”

Vô Chính Diệu tại Tứ Mộ cung, hoặc tại Hợi. Kỵ Thân Mệnh đồng cung TẢ HỮU SINH VƯỢNG lại tốt, suót đời hưởng 2 chữ phúc và tài lộc

“PHÚC Vô Chính Diệu tu cần KHÔNG tú (Tuần), Kị ngộ TRIỆT tinh, nhược phùng SINH, HÌNH, KỊ, VIỆT vi nhân tiêu trưởng.”

Cung Phúc Vô Chính Diệu cần Tuần kỵ Triệt (Vì TRIỆT chủ bị trừ, xem nhẹ coi thường… phải xem trọng, quan phòng… cung này chưa bà con trong đó) Nếu có các sao kể trên là người không thể thành đạt, thành họa thì có... Bộ KỴ HÌNH đã mệt hung rồi, thêm VIỆT chủ phát sinh, thêm Sinh để nẫy họa. (từ hung là phương ngôn người Huế nói riêng, như mệt quá, chư không phải hung dữ hay hung họa).

Các cách ghi trong sách về Mệnh vô Chính Diệu qúa đơn giản, thiếu sót, cho nên dễ sai lầm.
- Có Mệnh Vô Chính diệu tốt, có Mệnh Vô Chính Diệu xấu.
- Không phải chỉ xoay quanh cái “Đắc Tam Không, có khi đắc Tam Không mà tốt, có khi đắc Tam Không mà xấu”.
- Tam Không là những Không nào ?

Trên đường tìm Mệnh Vô Chính Diệu

Chúng tôi có nhiều lá số Mệnh Vô Chính Diệu trong tay, chúng tôi cũng được nhiều vị thân hữu cho xem những lá số Mệnh Vô chính Diệu, và, xin thú thật càng xem càng như lạc vào rừng. Có những vị Mệnh Vô Chính Diệu mà thật khá, có những vị Mệnh Vô Chính Diệu nhưng thật kém. Nhưng cứ theo các sách thì Mệnh Vô Chính Diệu, cần đắc Tam Không mới “phú quý khả kỳ” – Nhưng theo các lá số, có vị mệnh Vô Chính Diệu không đắc Không nào, mà được rất khá, lại có vị đắc Tam Không, nhưng lại bị dở.

Xem ra thì sách nói qúa thiếu xót, cho nên khó mà đúng được. Theo các sách thì Mệnh Vô Chính Diệu, cần có TUẦN, TRIỆT án ngữ và cần thêm THIÊN KHÔNG, ĐỊA KHÔNG hoặc không có những “Không” đó , cũng phải có nhiều sao tốt hội họp mới được, nghĩa là mới khá và mới sống lâu. Những cách đại cương đó, áp dụng vào các lá số, khi đúng, khi sai. Tất nhiên, cách Mệnh Vô Chính Diệu, không phải chỉ đơn thuần được giải đoán như thế, là vì theo thiển nghĩ của chúng tôi, ngoài sự kiện Mệnh không có chính diệu, ngoài các sao Không, còn có các chính tinh chiếu, các hung tinh, các trung tinh tốt khác, còn sự kiện hành của Mệnh .v.v…. tất cả những sự kiện đó còn ràng buộc với nhau để tạo nên sự tốt xấu.

Trong mục tiêu đi tìm ý nghĩa của Mệnh Vô Chính Diệu, chúng tôi đã cần đến nhiều vị. Có vị lão thành bảo rằng Tam Không phải là Tuần Không, Triệt Không và Địa Không. Sở dĩ phải kể cả Triệt là vì danh xưng của sao đó là Triệt lộ Không vong. Có vị lại cho rằng Tam Không phải là Tuần Không, Địa Không và Thiên Không, còn Triệt là Triệt lộ chứ không phải là Triệt Không, vả lại danh xưng Thiên Không đã sẵn đó để được kể là một Không. Có những lần, chúng tôi có ghi về kinh nghiệm của cụ Ba La, nói rằng Mệnh Vô Chính Diệu mà có TUẦN, TRIỆT đóng ở đó, thì dù có gặp các sao tốt như Lộc Tồn, Tam Hóa, Tả Hữu vẫn phải kể là bị giảm đi, bởi vì TUẦN & TRIỆT làm giảm những cái xấu, nhưng cũng chiết giảm những cái tốt. Cho nên Mệnh Vô Chính Diệu mà được những sao tốt thì phí đi chứ không hay.

Trong phần trước tôi đã đăng một bài nêu lên kinh nghiệm của Cụ Quản Văn Chính với chủ đề ”Mệnh Vô Chính Diệu có phi yểu tắc bần không ? ” . Trong đó có trình bày 3 lá số Mệnh Vô Chính Diệu mà không yểu cũng không bần. Điều đó đó càng thúc đẩy chúng tôi tìm hiểu thêm trọn vẹn những yếu tố để giải đoán trường hợp Mệnh Vô Chính Diệu. Nay chúng tôi xin trình bày của cụ Thiên Lương nêu lên các kinh nghiệm của cụ, để giải đoán các trường hợp Mệnh Vô Chính Diệu

- Thế nào thì được gọi là "Mệnh vô chính diệu"?
- Khi cung MỆNH không có chính diệu, nhưng cung hợp và xung chiếu có đến vài "ông" tốt thì có được gọi là "Mệnh vô chính diệu" không?
Tôi mới học an được "Mệnh, thân và một vài sao(Cũng phải mở sách để an)" nhưng chủ yếu là khi nào học lại lấy lá số trên mạng cho nhanh(Vì không đủ thời gian để giở tài liệu mà không thể học thuộc lòng trong một sớm một chiều được).
Tôi đọc các sách nói về tử vi thì chưa rõ về "Mệnh vô chính diệu" lắm
Rất mong nhận được chỉ giáo của các thành viên DD để tôi nâng cao trình độ. Xin cám ơn nhiều
Ba Cách Tốt Nhất của Mệnh Vô Chính Diệu
- Tam Không tọa chiếu Mệnh
- Sát tinh đắc địa độc thủ
- Nhật Nguyệt hợp chiếu

Ngoài 3 cách này còn 1 cách khác nữa là được nhiều sao tốt như Khoa Quyền Lộc Xương Khúc Khôi Việt Long Phượng Hổ Cái Quang Quý Thai Toạ Tả Hữu ... hội chiếu vào Mệnh; kì dư thì "phi yểu tất bần", cơ mà VD chưa thấy lá số nào bất hạnh như thế và cũng mong không bao giờ thấy vì VD tin Ông Trời luôn cho con người 1 đường sống, miễn người đó biết hành thiện tích đức, không cho mình thì cũng cho con cháu :!: ;-)


Mệnh vô chính diệu rất cần gặp tuần triệt án ngữ sẽ đão nghịch ảnh hưởng xấu hóa tốt , nếu hội thêm 2 không nữa thì quả là mỹ mãn , mười phần vẹn mười,nếu chỉ có 2 không thì chế bớt đi một ít , xung chiếu thì ảnh hưởng mạnh mẽ hơn là tam hợp chiếu (nhị chiếu chưa từng nghe qua), đào , phục , binh , thai , kiếp , không ( rất đáng lo ngại khi chúng hội nhau )

"Cung VCD và Tuần Triệt án ngữ
Ngoại trừ trường hợp cung VCD có hung tinh đắc địa độc thủ thì không nên có Tuần Triệt án ngữ, còn tất cả các trường hợp cung VCD đều rất cần có Tuần hoặc Triệt án ngữ tại bản cung để câu hút được chính tinh về, để ngăn chặn các ảnh hưởng xấu xa do hung tinh lạc hãm đóng tại cung VCD hoặc chiếu về cung VCD. Nếu gặp Triệt tại Thân Dậu, Tuần tại Thìn Tí hoặc Dần Mão thì càng hay (Triệt đáo Kim cung, Tuần lâm Hỏa địa hoặc Mộc vị thì bất kỵ Sát Tinh bại điều tai ương sở tác). Chú ý rằng cung VCD gặp Tuần án ngữ tốt đẹp hơn cung VCD gặp Triệt, gặp Triệt cũng chỉ đưa đến sự tốt đẹp của cung VCD ở mức độ kha khá trong trường hợp có chính tinh sáng sủa xung chiếu và nhiều trung tinh sáng sủa hội chiếu. Nếu không có Tuần hoặc Triệt đóng tại cung VCD thì hiệu quả ảnh hưởng của chính tinh xung chiếu yếu đi, và cho dù cung VCD có nhiều sao sáng sủa hội chiếu cũng không thể coi là rực rỡ được, tốt lắm thì sự tốt đẹp cũng chỉ ở mức độ trung bình khá mà thôi. Khi có Tuần hoặc Triệt tại cung VCD thì mặc dầu ban đầu tuy gặp khó khăn trở ngại nhưng về sau lại thuận lợi hơn, tốt đẹp hơn. Tuần Triệt ở đây còn có tác dụng ngăn trở các sao xấu, nếu có, chiếu về cung VCD, và giải cứu được trường hợp phi yểu tác bần nếu VCD tại cung Mệnh. Trường hợp Tuần Triệt án ngữ đồng cung thì thông thuờng ta có thể giải đoán là cung VCD này không tốt cũng không xấu, tốt xấu chỉ nằm khoảng ở mức độ trung bình mà thôi. Trong trường hợp này ta gần như không cần quá chú trọng lắm đến các sao hội chiếu vì ảnh hưởng gia giảm của các sao này tuy vẫn có nhưng hầu như không nhiều vì Tuần ngăn các sao tốt chiếu tới là chủ yếu, còn Triệt thì ngăn cản các hung tinh chiếu tới trong khi các sao tại bản cung thì bị cả Tuần lẫn Triệt vây trảm. Cần chú ý có một số sao kỵ gặp Tuần Triệt như Tướng Quân nếu đóng tại cung VCD mà gặp Tuần Triệt thì dễ đưa đến tai họa bất ngờ nếu rơi vào trường hợp bị đương đầu. Đặc biệt nếu VCD tại Tứ Mộ thì lại rất cần Tuần Triệt án ngữ.
Trường hợp đặc biệt Mệnh VCD có Tuần hoặc Triệt thủ, có hai trong ba sao là Tuần, Triệt, Thiên Không chiếu thì gọi là VCD đắc tam không, nếu mệnh Hỏa hoặc Kim thì phú quí khả kỳ (được hưởng phú quí trong một giai đọan, bởi vì tính chất của các sao Không trong trường hợp này tuy đưa đến tốt đẹp nhưng không toàn vẹn, chỉ hưởng tốt đẹp trong một giai đọan mà thôi). Đắc Tam Không là Tuần Không, Triệt Không và Thiên Không. Không tính sao Địa Không. Cần một thủ, hai sao chiếu. Trong trường hợp đắc tam không này ta không lấy chính tinh xung chiếu làm tọa thủ. VCD đắc tam không mà không có Tuần Triệt án ngữ thì là cách Kiến Không. Mệnh VCD đắc tam không thì mệnh Hỏa đẹp hơn Mệnh Kim, còn các Mệnh khác thì không hưởng mấy (không giàu có nhưng nhìn chung thì cuộc sống không đến nổi xấu, cuộc sống cũng được tạm đủ hoặc kha khá). Phú có câu:

Mệnh VCD đắc Tam Không phú quí khả kỳ
Mệnh VCD hoán ngộ Tam Không hữu Song Lộc, phú quí khả kỳ

Trường hợp VCD đắc tam không, nếu có hung tinh lạc hãm hay đắc địa tọa thủ tại cung VCD thì cũng chỉ làm xấu một chút mà thôi, ta không đáng lo ngại lắm về họa của các sao này gây ra

Trường hợp vô chính diệu mà không có Tuần Triệt án ngữ, lại có sao Thiên Không thủ là cách ngộ Không, là người quyền biến khôn ngoan nhưng cuộc đời thăng trầm cực khổ. Nếu lại gặp thêm các sao Không khác ở các cung hội chiếu thì lại thông thường càng xấu hơn, cuộc đời sẽ thăng trầm cực khổ nếu không bị chết yểu.

Nhìn chung trường hợp VCD mà lấy chính tinh xung chiếu làm tọa thủ thì cho dù có được chính tinh sáng sủa xung chiếu, được Tuần Triệt án ngữ cũng chỉ đưa đến sự tốt đẹp của cung đó cũng chỉ là mức độ khá là tối đa mà thôi, chứ không thể nào rực rỡ như có chính tinh sáng sủa tọa thủ được. Còn nếu gặp chính tinh lạc hãm xung chiếu hoặc có nhiều sao xấu hội tụ mà lại không có Tuần Triệt án ngữ cứu nguy thì rơi vào cách phi yểu tác bần. Nếu có hung tinh lạc hãm khác hành bản Mệnh tọa thủ thì càng nguy hiểm hơn. Cung VCD mà có sát tinh hãm địa thủ thì rất xấu, dễ lâm vào trường hợp phi yểu tác bần (rõ nét nhất cho những người có hành bản Mệnh bị hành của hung tinh khắc) Ngọai trừ có Tuần Triệt án ngữ cứu nguy hoặc có nhiều cát tinh cứu giải như Quan Phúc, Quang Quí tọa thủ tại bản cung là tốt nhất….

VCD có hung tinh đắc địa độc thủ
Hung tinh đắc địa này phải là hành Hỏa hoặc hành Kim mới được coi là rơi vào trường hợp này. Trong trường hợp này thì ta chọn hung tinh này làm nòng cốt cho cung VCD, không lấy chính tinh xung chiếu để giải đoán. Một số tác giả cho rằng hao bại tinh đắc địa có thể làm nòng cốt cho cung VCD như Tang Môn (Mộc), Song Hao (Thủy), Khốc Hư (Thủy) nhưng theo thiển ý thì không chính xác.
Thứ tự mức độ tốt có thể sắp xếp như sau:
Bạch Hổ đắc địa tốt nhất, tại Thân Dậu tốt đẹp hơn tại Dần Mão
Kình Đà đắc địa, Kình đẹp hơn Đà
Không Kiếp đắc (Tỵ Hợi đẹp hơn Dần Thân), Hỏa Linh đắc
Đặc biệt Thái Tuế (hành Hỏa) cũng được dự phần vào trong cách này với điều kiện không gặp Tuần hoặc Triệt và phải rơi vào cung Mệnh hoặc Thân VCD
Một vài ghi nhận về vị trí của hung tinh đắc địa
Không Kiếp hành Hỏa miếu địa tại Tỵ Hợi, đắc tại Dần Thân
Hỏa Linh hành Hỏa đắc địa tại cung ban ngày từ Dần tới Ngọ
Kình Đà hành Kim đới Hỏa, đắc địa tại Thìn Tuất Sửu Mùi
Bạch Hổ hành Kim đắc địa tại Dần Mão, Thân Dậu

Hung Tinh đắc địa phải là hành Kim và Hỏa mới có tác dụng mạnh và bản Mệnh phải đồng hành với hung tinh này thì mới hưởng tốt đẹp trọn vẹn. Các Mệnh khác thì hưởng yếu hơn, ta có thể tạm đánh giá thì chỉ nằm trong mức độ trung bình. Trong tất cả các trường hợp trên thì ngoại trừ Bạch Hổ và Thái Tuế còn có tác dụng tốt lâu dài về sau, còn lại các trường hợp khác thì tuy làm cho cung VCD được sáng sủa rực rỡ nhưng chỉ là một giai đoạn mà thôi, không có tác dụng tốt lâu dài.Mọi sự xấu tốt đều đến nhanh. Không Kiếp phát huy tính chất lên bất ngờ nhanh chóng nhất nhưng cũng đưa đến suy bại nhanh nhất trong toàn bộ các hung tinh vừa kể.

Nếu Mệnh VCD có hung tinh đắc địa độc thủ nhưng bị Tuần Triệt án ngữ thì không đúng cách đã nói ở trên, trong trường hợp này ta luận giải như trường hợp lấy chính tinh xung chiếu làm tọa thủ, với Tuần Triệt án ngữ tại cung.

Cung VCD có Nhật Nguyệt xung chiếu hoặc Nhật Nguyệt sáng sủa tam hợp chiếu (Nhật Mão, Nguyệt Mùi) :
Trường hợp nếu có đủ bộ Âm Dương sáng sủa tại Mão và Mùi Hợi chiếu hoặc Âm Dương đồng cung xung chiếu đến cung VCD thì ta lại chọn bộ Âm Dương này làm nòng cốt cho cung VCD, chứ không lấy các chính tinh xung chiếu bởi vì qui luật của Nhật Nguyệt là chiếu đẹp hơn tọa thủ. Trong trường hợp nay ta có thể đoán rắng cung VCD này trước tuy có gặp trục trặc trắc trở nhưng về sau thì khá tốt. Tốt xấu hơn thì phải căn cứ vào sự tụ tập của các sao khác. Nếu có Tuần hoặc Triệt án ngữ tại cung VCD thì cung VCD này càng trở nên tốt đẹp bội phần, gặp Tuần tốt hơn gặp Triệt. Gặp Triệt thì chỉ kha khá thêm một chút mà thôi. Trường hợp Nhật Mão Nguyệt Mùi thì cần phải không bị sao nào làm giảm sức sáng, ví dụ như cần phải không có Tuần Triệt án ngữ Nhật Nguyệt, hoặc Hóa Kỵ đóng đồng cung làm giảm sức sáng của Nhật hoặc Nguyệt. Nếu một sao bị Tuần hoặc Triệt án ngữ hoặc bị Hóa Kỵ đồng cung, nghĩa là bị giảm sức sáng thi sẽ đưa đến mức độ tốt giảm đi rất nhiều, cung VCD trong trường hợp nay chỉ tốt ở mức độ trên trung bình một chút mà thôi. Nếu Nhật Nguyệt được các phụ tinh làm tăng sức sáng như Xương Khúc Đào Hồng thì lại càng tốt đẹp bội phần. Trường hợp có Nhật Nguyệt Sửu Mùi chiếu thì nếu Nhật Nguyệt bị Tuần hoặc Triệt tại cung thì càng tốt, có Hóa Kỵ đồng cung với Nhật Nguyệt thì càng tốt hơn.
Chú ý rằng chỉ rơi vào hai trường hợp này thì ta mới sử dụng bộ Nhật Nguyệt, còn tất cả các trường hợp khác thì nếu có Âm Dương chiếu ta cũng lấy chính tinh xung chiếu làm tọa thủ."

 st: Lê Công 

Thứ Ba, 28 tháng 6, 2022

Phân loại đoán mệnh

 

Theo kinh nghiệm cá nhân, có thể phân loại như sau:

– Tử, Phủ, Vũ, Tướng:

Là loại người đa số nắm quyền sinh sát nếu đủ Khoa Quyền Lộc, Xương Khúc, Tả Hữu, Tứ Linh…, thường thì phúc hậu, đường bệ, uy nghi nếu sao đắc địa thủ hợp Mệnh, Thân.

  • Tử Vi: Đa số phúc hậu, tính tình cẩn trọng, tướng người vừa tầm, cân đối, da thường hơi ngâm hoặc vàng không trắng, không cao, không thuộc loại đẹp trai, nếu ở Dần Thân. Ngoại trừ người có Mệnh ở Tí, Ngọ không gặp Tuần Triệt thì tướng cao, nhưng cũng không đẹp vì thường mặt mụn hoặc sần sùi. Người gặp Tuần Triệt tại Mệnh ở Tí Ngọ thì da trắng, thanh tú, không mụn hay sần sùi, nhưng không cao. Trường hợp người gặp Tử Vi có Không Kiếp thì lại đẹp trai, nhưng Tử Vi gặp Không Kiếp là đế ngộ hung đồ, thường làm đàn anh đi trộm cướp.
  • Tử Sát ở Tỵ Hợi nhờ có Thất Sát nên da trắng, trai gái đều đẹp, và mặt thường không bị mụn hay sần sùi, vì Tử Vi ở Tỵ được Thất Sát Kim tiết khí Thổ và Thiên Đồng ở Tí đắc địa nên Thổ không đến nổi khô táo tạo thành mụn nhọt. Ở Hợi thì Tử Vi vừa được Thất Sát Kim và cung Hợi Thuỷ tưới nhuận, nên Thiên Đồng ở Ngọ hãm mà không bị mụn nhọt.
  • Tử Phá ở Sửu Mùi nhờ có Phá Quân Thuỷ nên trai gái đều đẹp, da hơi trắng, và mặt không mụn, nhưng tính hơi nóng nảy và dữ.
  • Tử Tham Mão Dậu thì hơi dư bề ngang và hơi thiếu bề cao. Nói chung không cao và hơi mập, nhưng da không trắng, và mặt mày không mụn hoặc sần sùi, do nhờ Tham Lang mộc khắc bớt chất Thổ của Tử Vi.
  • Tử Tướng Thìn Tuất cũng thấy không mụn, vì nhờ Thuỷ của Thiên Tướng. Nhưng ở đây phái nam thường đẹp trai hơn phái nữ.

Chú Ý: Đừng ngạc nhiên khi người có Tử Vi đắc địa hợp Mệnh mà “da mặt lại sần sùi hay mụn” đó là vì Thổ quá vượng và cung Tật Ách của họ có Thiên Đồng không đắc địa hoặc hãm. Nếu Tử-Vi thủ Mệnh thì Thiên Đồng bao giờ cũng ở cung Tật Ách, còn Tử-Phủ thủ Mệnh thì Tật Ách là Đồng-Cự. Cả hai trường hợp thường làm cho đương số hô, mặt mụn hay sần sùi nếu không có Tuần Triệt. Duy, người bị Tuần-Triệt tại Mệnh thì mặt lại không mụn! Nói chung những người Mệnh Kim, Hỏa, và Thổ, mà gặp phải Tử Vi ở các cung như Tí, Ngọ, Dần Thân thì rất dễ bị mụn, nếu cung Tật hay Mệnh không có Tuần Triệt.

  • Thiên Phủ: thường thì tướng người đậm, hơi có thịt, đầy đặn, trắng trẻo, thường cao lớn, hay dong dảy, mặt mày có nét hiền lành phúc hậu. Tính khí ôn lương, nhẹ nhàng hơn Tử Vi, nhưng mạnh dạn hơn Cơ nguyệt . Gặp Tử Vi ở Dần Thân khó tránh bị mụn, nếu không có những cách như đã nói ở sao Tử Vi. Gặp các sao khác như Liêm Phủ, Thìn Tuất, Vũ Phủ, Tí Ngọ, vẫn đẹp đẻ, phương phi.
  • Vũ Khúc: thường tướng nhỏ con, không cao, nhưng nét cứng chắc, mặt hơi xương, nhiều nốt ruồi, tính quả quyết, hơi khó tính, hơi kiêu kỳ, mà cô độc.
  • Thiên Tướng: thường tướng cao lớn, tính nóng, có tâm Đạo, có khiếu làm thầy tu, bói toán, nhà văn, bác sĩ… nếu có Quang Quý, hay Quan Phúc. Riêng đóng ở Mão Dậu thì tướng người dong dãy vừa tầm, không mập không ốm, da hơi ngâm một chút. Còn ở Sửu Mùi thì tướng khá cao lớn.
– Sát, Phá, Liêm, Tham:

Tướng người cứng chắc, ngang tàng khí phách, gan gốc. Nếu thêm Địa Không, Địa Kiếp nữa thì họ chẳng nễ vì ai cả.

Thất Sát: tướng oai, tính cương, đôi khi nông nổi vì bốc đồng.Con gái có Thất Sát thường lưỡng quyền cao (gò má cao), mặt thường hơi xương.

  • Thất Sát Tí Ngọ: đắc địa da trắng, có tướng thư sinh, cạnh hàm hơi bén (mặt hơi xương lưỡng quyền hơi lộ), tướng oai, tính cương, đôi khi nông nổi vì bốc đồng. Mới nhìn hơi giống Thiên Lương, Nhật, Nguyệt, nhưng cứng chắc hơn.
  • Thất Sát Dần Thân: Tướng khá cao lớn, da hơi ngâm, không trắng, tướng bệ vệ, tính khá nóng gấp, đàn bà cũng khá dữ.
  • Vũ Sát Mão Dậu: Người không cao, xương hơi to, da hơi ngâm hoặc vàng không trắng, thường hay bị bệnh thần kinh hoặc tinh thần hơi yếu. Tính nóng gấp, gan gốc, lỳ lợm, cho dù là phái nữ cũng hơi dữ.
  • Liêm Sát Sửu Mùi: Tướng người dong dảy khá cao, da thường trắng, mặt hơi dài, tính thẳng thắn mạnh dạn.
  • Phá Quân: đắc địa da trắng nhuận, nếu hãm trắng bạch, tướng người vừa tầm, má hơi hóp mặt hơi xương, cạnh hàm hơi bén, có nét đàn anh, nghiêm nghị.
  • Liêm Phá Mão Dậu tương đối cao, mặt mày đầy đặn. Ở đây thì đương số thường nói năng hơi phóng đại một tí, và hay dùng những danh từ binh lửa, hay đao to búa lớn… hoặc giống y như đang ra trận. Ví dụ: “Hắn định tung một chưởng Tử Vi với tôi, liền bị tôi oanh tạc cho tắt bếp”. Nghe người Liêm Phá nói chuyện thì thật là thú vị.

Liêm Trinh: tướng người hơi ốm nhưng cứng chắc, mặt hơi dài, trán có nhiều nếp nhăn, mắt hơi lội, lông mày rậm, tính khí thích tranh đấu, nóng nảy, can đảm, dũng mãnh, trung trực, liêm khiết, thẳng thắn. Nữ phái gặp Liêm Trinh thì thanh khiết, đoan chính, mà vẫn nóng.

Tham Lang: Mặt hơi tròn, tướng người hơi mập thịt nhưng cứng chắc và mạnh dạn, lông tóc nhiều, hoặc râu quai nón (gặp Hóa Lộc hay Riêu Y càng chắc), lòng tham dục và tình dục rất mạnh. Tham Lang luôn nhị hợp với Thiên Đồn, nên ăn vào Thiên Đồng thì hơi mập, nhưng tướng mềm, không nóng nảy và mạnh dạn như ăn vào Tham Lang. Người Tham Lang thường dễ ra mồ hôi và hơi nặng mùi.

– Cự, Nhật:

Thuộc loại công chức như Cơ, Nguyệt, Đồng, Lương, nhưng ăn nói rất đanh thép.

a. Thái Dương: Nếu sáng sủa thì tướng người dong dãy, có cặp mắt to hoặc đen láy mơ huyền rất đẹp hoặc làm nổi bậc nhất trong khuôn mặt, mặt mày sáng sủa, khôi ngô tuấn tú, thông minh đỉnh ngộ, tính tình hiền lành, nhưng hoạt bát hành động nhanh nhẹn, hơi tự hào; hãm địa thì mặt mày vẫn vậy nhưng da hơi ngâm, tính tình trầm tỉnh hành động chậm rãi, giọng nói hơi nhỏ nhẹ, không mạnh dạn, kém thông minh. Ở Thân Dậu, Tuất Hợi, Tí Sửu, gặp Tuần Triệt là hay nhất. Nếu hãm địa ở những nơi khác gặp Tuần, Triệt là người có trí nhớ rất dai, nhưng lại khi thông minh khi tối tăm. Thái Dương hợp với nam, nên dù hãm địa ở Tuất Hợi Tý vẫn là một người rất đẹp trai; nhưng ngược lại đối với phái nữ thì không thuộc loại đẹp gái.

b. Cự Môn: thường da trắng, có mũi lân, mặt hay mũi thường có mụn hay sần sùi, miệng thường hô, trừ khi gặp Tuần Triệt, hay thân đóng ở nơi khác. Tướng người thường mềm mại, nhưng ăn nói đanh thép nếu đắc địa, hãm địa thì thích thị phi, hay lý tài, biện luận. Cự Môn hãm gặp Tuần Triệt thì mặt mày trắng trẻo, và mũi hay mặt không mụn hay sần sùi.

– Cơ, Nguyệt, Đồng, Lương:

Dáng người mềm mại (dù là mập) và tướng thường thanh thanh (tức là thuộc loại bạch diện thư sinh).

  • Thiên Cơ: Nét mặt hiền lành, đạo đức, trai thì thư sinh, gái thì nhu mì nết na, là người nhân hậu, chí thiện. Tướng người mềm mại, da dẻ khá trắng, gò má hơi lộ hoặc má hơi hóp.
  • Cơ-Lương: Thìn, Tuất, Sửu, Mùi thường mặt chữ điên (vuông) da trắng, mũi cao, mặt đẹp, tướng cao, nói chung là trang mỹ tử. Tính tình thanh cao, hiền lương, ngay thẳng, đạo đức.
  • Thiên Lương: mặt thanh tú, da trắng, và có cái cằm vuông
  • Thái Âm: Nếu sáng sủa thì da trắng, mặt mày đẹp đẽ, thanh tú, thông minh sáng suốt, cặp mắt to đẹp, hoặc đen láy hay mơ huyền hoặc làm nổi bậc nhất trong khuôn mặt, phái nữ gặp thì rất hợp. Phái nam gặp thì đẹp trai nhưng tính giống như “mụ”, nhất là miệng khi nói chyện hay điệu hoặc sửa nét, mặc dù đây là tính tự nhiên; nói chung có vài tính giống nữ. Nếu hãm địa tính tình trầm tỉnh hành động chậm rãi, kém thông minh, da hơi ngâm; nếu đắc địa cực kỳ thông minh, tính tình khoáng đạt hành động nhanh nhẹn, hơi tự hào. Thái Âm hãm địa hay đắc địa gặp Tuần Triệt cách luận cũng giống như Thái Dương. Nữ phái gặp Thái Âm hãm gặp Tuần Triệt, hoặc đắc địa thì đó là một người đàn bà tuyệt vời, vì nết na thuỳ mị, đoan trang, công dung ngôn hạnh đủ đầy. Thái Âm từ Mão đến Tỵ, nếu không có Tuần Triệt thì giọng nói yếu ớt vì thiếu khí lực, da hơi xanh, sức khỏe yếu kém, người thường mảnh khảnh ốm yếu.
  • Thiên Đồng: tướng thường thấp và hơi mập (nếu mập thì nhiều phúc, thường giàu có, khá giả), đặc biệt đùi và mông to (xương chậu rất to, thường trên thon nhỏ dưới bự từ mông và đùi, gặp trường hợp này đi giống y như con vịt), nếu hãm địa da đen. Mặt mày và tính tình phúc hậu, nhưng tính hay thay đổi bất thường (vì tính như con nít, chữ Đồng) như trẻ con, ưa động. Mặt và tính trẻ hơn so với tuổi. Nếu ở Mão Dậu gặp Tuần Triệt người lại mình dây, tướng dong dãy, nhưng xương chậu mông và đùi vẫn to hơn những nơi khác. Tóm lại gặp người có Thiên Đồng chỉ cần chú ý mông và đùi là biết ngay.
– Cự-Đồng:

ở Sửu Mùi, tướng người hơi thấp và hay phì nộn, mông to, da đen, mặt hay mũi thường mụn, miệng hô. Nếu gặp Tuần Triệt thì da trắng, người vừa tầm, nếu là gái thì lại đẹp, hô giả, quý tướng.

Theo kinh nghiệm cho thấy: không phải lúc nào tướng người cũng giống như sao thủ Mệnh, nhưng nếu giống thì mới được hưởng những cách tốt, hoặc mới bị những cách xấu của sao ấy, (tuy nhiên tính chất của Sao thủ Mệnh thì vẫn không thay đổi mấy). Trường hợp tướng người không giống Sao thủ Mệnh, thì phải xem giống Sao nào trong tam hợp, nhị hợp, hay xung chiếu, rồi mới tính cách tốt xấu của Sao đó. Hơn nữa, trong thực tế thì tướng người cao thấp, da dẻ đen trắng, còn tuỳ thuộc vào gene duy truyền của cha mẹ, và sự phát triển ăn uống lúc nhỏ. Đây chỉ là những nét đại cương, không thể nào hoàn toàn chính xác bất di bất dịch được.

Thứ Hai, 20 tháng 6, 2022

 Xem Phu thê, phải xét Mệnh, Thân, Phúc


Các sự kiện trong cung Phu thê mà nhà thuật số cân nhắc thuộc về các phương diện hạnh phúc đời người.

1- Vợ chồng lấy nhau có dễ dàng hay bị cản trở?
2- Có sự hình khắc, tử biệt sanh ly không?
3- Có xung khắc nhau không (những độ xung khắc khác nhau) hay được hòa hợp đến già?
4- Có mấy đời vợ chồng? Đàn ông có mấy vợ?
5- Vợ hay chồng có tốt không? (vợ đẹp ngoan, đứng đắn hay dâm dật, xấu xa, chồng khá giả hay chồng bần tiện).

Muốn biết đại cương cung Phu thê tốt xấu, phải xem các sao trong cung đó, nhưng trước hết, cũng phải xem Mệnh, Thân và Phúc đức.

Sở dĩ phải xem Mệnh, Thân và Phúc đức, là bởi vì người có Mệnh, Thân và Phúc đức tốt, tất được hưởng ảnh hưởng tốt và hạnh phúc và cái đó phải ảnh hưởng vào cung Phu thê (đó là chưa kể rằng cung Phu thê thuộc nhóm cung Mệnh, Thân và có các cung Phúc, Quan, Di chiếu tới).

Nếu cung Phu thê xấu mà được cung Mệnh, Thân và Phúc đức tốt, thì cũng giải trừ được nhiều sự xấu (bớt sự xung khắc, bớt hình khắc chia ly).

Nếu cung Phu thê tốt, mà cung Mệnh, Thân và Phúc đức xấu, thì những cái tốt của cung Phu thê cũng giảm đi.

Cũng có trường hợp Mệnh xấu, Phu thê xấu, lấy vợ lấy chồng gặp toàn cảnh ngộ tệ hại, thế nhưng sang đến Thân tốt, thì cũng Phu thê ấy, mà lại được hưởng tốt (Thân ăn về hậu vận, từ 30 tuổi trở ra: đương số lấy vợ lúc trẻ tuổi, gặp vợ lăng loàn, chịu xung khắc rồi phải ở góa; nhưng sang đến Thân được ảnh hưởng tốt, lại lấy được vợ tốt, hiền hòa, ăn nên làm ra, vợ chồng hòa hợp).

Cần nắm vững Mệnh, Thân và Phúc đức mới giải đoán được đúng cung Phu thê.

Ảnh hưởng chính tinh

Quý vị có thể coi các sách Tử vi, đã soạn sẵn những cách và ý nghĩa khi gặp những chính tinh miếu hay hãm, rồi lại có những cách trung tinh. Xin tóm tắt sau đây ý nghĩa các cách ở cung Phu thê:

- Tử vi tại Ngọ: hòa hợp đến già, khá giả.
- Tử Phủ đồng cung: hòa hợp đến già, khá giả.
- Tử Tướng đồng cung: cùng cứng cỏi, xích mích. Nhưng khá giả, ăn ở được với nhau.
- Tử Sát đồng cung: tiên trở hậu thành và lập gia đình trễ mới tốt.
- Tử Phá đồng cung: hình khắc hoặc kém thuận hòa.
- Tử Tham đồng cung: thành hôn trễ mới tốt, ghen tuông.
- Liêm đơn thủ Dần Thân: mấy lần lập gia đình.
- Liêm Phủ đồng cung: trễ mới tốt. Chung sống tốt, khá giả.
- Liêm Tướng đồng cung: bất hòa.
- Liêm Sát đồng cung: hình khắc, muộn mới tốt.
- Liêm Phá đồng cung: bất hòa.
- Liêm Tham đồng cung: xung khắc.
- Đồng tại Mão: trễ mới tốt.
- Đồng tại Dậu: bất hòa.
- Đồng tại Tý: dễ gần, dễ xa.
- Đồng tại Thìn, Tuất: xung khắc
- Đồng Nguyệt đồng cung tại Tý: đẹp đôi, khá giả, cưới sớm.
- Đồng Lương đồng cung: đẹp đôi, khá giả, cưới sớm.
- Đồng Nguyệt tại Ngọ: trễ mới tốt.
- Đồng Cự: xa nhau một thời rồi mới đoàn tụ.
- Vũ khúc tại Thìn Tuất: trễ mới tốt.
- Vũ Phủ đồng cung: có bất hòa, nhưng khá giả đến già.
- Vũ Tướng đồng cung: vợ đảm, chồng sang. Có xích mích, nhưng khá giả đến già.
- Vũ Tham đồng cung: trễ mới tốt.
- Vũ Phá đồng cung: giỏi, trễ mới tốt.
- Vũ Sát đồng cung: hình khắc, dễ xa nhau.
- Thái dương sáng: hòa hợp, khá giả đến già.
- Thái dương tối: cưới xin trắc trở, trễ mới tốt.
- Nhật, Cự đồng cung tại Dần: bất hòa nhưng chung sống đến già.
- Nhật Cự đồng cung tại Thân: trễ mới tốt.
- Nhật Nguyệt đồng cung: khá giả, nhưng trễ mới tốt.
- Thiên cơ ở Tý, Ngọ, Mùi: thành hôn sớm, khá giả, ở được với nhau.
- Thiên cơ ở Hợi, Tý, Sửu: trễ mới tốt.
- Cơ Lương đồng cung: lấy dễ, khá giả hòa thuận đến già.
- Cơ Cự đồng cung: người xứng đáng, trễ mới tốt.
- Cơ Nguyệt đồng cung ở Thân: người xứng đáng, cưới sớm.
- Cơ Nguyệt đồng cung ở Dần: hay khó khăn, trễ mới tốt.
- Thiên phủ ở Tỵ Hợi: khá giả, hòa thuận đến già.
- Thiên phủ ở Sửu, Mùi, Mão, Dậu: khá giả và chung sống đến già nhưng hay cãi nhau.
- Thái âm sáng: khá giả, cưới sớm, chung sống bạc đầu.
- Thái âm tối: bất hòa, hôn phối không tốt, trễ mới tốt.
- Tham lang ở Thìn, Tuất, Tý, Ngọ: tốt nhưng hay ghen, trễ mới tốt.
- Cự môn tại Tý, Ngọ, Hợi: khá giả, ở được với nhau, nhưng hay bất hòa.
- Cự môn tại Thìn, Tuất, Tỵ: xung khắc, hay bỏ nhau.
- Thiên tướng: trai nể vợ, gái lấn áp chồng, trễ mới tốt.
- Thiên lương ở Tý, Ngọ: vợ đẹp, chồng sang, khá giả.
- Thất sát: trễ mới tốt, sớm thì hình khắc chia ly.
- Phá quân: trễ mới tốt, sớm thì hình khắc chia ly.

Ảnh hưởng trung tinh

Các trung tinh tốt cho thêm ảnh hưởng tốt, về vợ hay chồng khá giả và về sự hòa thuận: Xương, Khúc, Khôi, Việt.

Sát tinh (Không Kiếp Kình Đà Linh Hỏa): miếu vượng thì chủ bất hòa hoặc chia ly thời gian ngắn; hãm thì hình khắc, họa hại người hôn phối xấu xa, bậy bạ. Cũng phải xét thêm ở chỗ giao ảnh hưởng với các sao khác.

- Tả Hữu: tăng ảnh hưởng cho các sao tốt hay xấu.
- Hóa lộc: hôn phối giàu.
- Hóa quyền: vợ lấn quyền, chồng sang.
- Hóa khoa: hôn phối có học, có chức.
- Hóa kỵ: bất hòa.
- Lộc tồn, Cô Quả, nên cưới trễ sẽ tránh chia ly.
- Thiên Mã: nên duyên ở nơi xa.
- Phục binh: đi lại với nhau rồi mới cưới.
- Tướng quân: đi lại trước, cưới sau.
- Quang Quý: vì ân tình mà lấy nhau.
- Song Hao: cưới dễ hoang toàn.
- Cô Quả: bất hòa, hay xa cách.
- Đào Hồng: cưới xin dễ nhưng nếu Đào Hồng hãm: hình khắc, chia ly.
- Thiên Diêu: hoang dâm, bất chính.
- Tuần, Triệt: trễ mới tốt (để khỏi bị hình khắc).

Ảnh hưởng chính tinh so với ảnh hưởng trung tinh

Trong cung Phu thê, có cả chính tinh và trung tinh gặp nhau, thì ảnh hưởng chính tinh mạnh hay trung tinh mạnh?

Xin thưa: ảnh hưởng chính tinh mạnh hơn ảnh hưởng trung tinh.

Vậy nên chính tinh mà tốt, gặp trung tinh xấu thì cái tốt được giảm đi chứ không bị xấu.

Nếu chính tinh có ảnh hưởng xấu gặp trung tinh tốt, thì cái xấu bớt đi chứ cái tốt chưa có.

Tuy nhiên, cũng có những cách cố định, gặp phải là có một ảnh hưởng nhất định, hoặc có những trung tinh, hung sát tinh mạnh thì có ảnh hưởng lấn át chính tinh.

Vài dữ kiện thí dụ

Phu thê có Cô, Quả, Đào Hồng hãm, Tả Hữu, Không Kiếp là báo hiệu sự hình khắc chia ly.

Lộc tồn, Vũ khúc, Cự Kỵ cũng thường báo hiệu sự chia ly.

Một người có Tử Phủ, Không Kiếp ở Thê, là cái tốt bị phá mất, mai mối nhiều lần không xong. Nhưng nếu sang Thân (ứng về hậu vận) tốt thì lại đỡ. Người đó lập gia đình muộn, vào năm 35 tuổi, được tốt.

Sự kiện được ghi ở các cách chính tinh bên trên (trễ mới tốt) được nghiệm ra là rất đúng. Gặp những chính tinh đó lập gia đình sớm là bị hình khắc chia ly. Nhưng lập gia đình trễ thì không sao, tức là tránh được hình khắc chia ly.

Xem về vợ bé, phải xem cung Nô.

Tuy nhiên, cũng có cách người góa vợ, lấy vợ sau, phải đoán ra. Như gặp Tả Hữu, Hồng Đào hãm, Không Kiếp, Cô Quả là cách góa vợ, nhưng lấy vợ sau thì khác đi.

Có Tuần Triệt thì lập gia đình gặp cản trở. Hai người chê nhau, hoặc gặp khó, nhưng chỉ khó lần đầu thôi. Không phải có Tuần Triệt là không có vợ chồng. Còn Tuần Triệt gặp Tướng thì hình khắc (Tướng ngộ Tuần hay Triệt là cách độc).

Một người Mệnh có Liêm trinh đắc địa, Thiên không, Hồng loan tại Dần Thân Tỵ Hợi, là người đứng đắn, lòng chỉ muốn tu, thì không nghĩ đến việc lập gia đình. Tuy nhiên đến năm 35 tuổi gặp Đào, Thai, Phục, Vượng, Tướng, lòng tự nhiên thấy mở rộng ra tình yêu, hoặc gặp trường hợp đặc biệt, thế là thành vợ thành chồng. Có sao đứng đắn, phải gặp lúc có những sao thật bay bướm mới thành hôn.
Hạn lấy vợ, lấy chồng

Xưa lập gia đình, nay trễ. Như vậy, cũng những người đó, những lá số đó, hoàn cảnh đất nước (chiến tranh, đời sống khó khăn, việc lập sự nghiệp đeo đẳng kéo dài) có thể làm lệch lạc số mạng chăng? Cũng không hẳn thế, là vì có số mạng, nhưng cũng có con người quyết định mới được.
Vả chăng, số vẫn có, bởi vì những cách báo hỉ vẫn xuất hiện, không năm này thì qua năm khác. Năm nay không báo hỉ, không hôn nhân thì thi đậu, hay đi làm, không thi đậu, đi làm, thì hôn nhân.

Sau đây là những vận hôn nhân:

- Đại tiểu hạn trùng phùng tại cung Phu thê.
- Hạn có Nhật Nguyệt chiếu.
- Hạn có Đào, Hồng, Hỉ.
- Hạn có Sát, Phá, Liêm, Tham.

Tức là những hạn có hỉ tinh. Phải xem cả đại hạn và tiểu hạn. Đại hạn có cách bảo hỉ. Tiểu hạn cũng có cách báo hỉ, thì đó là hạn thành hôn.

Trường hợp Thân cư Thê và chồng sợ vợ

Người đời thường bảo rằng Thân đóng ở Thê là người sợ vợ, hay nói nhẹ đi là người nể vợ, điều đó rất sai.
Thân cư Thê không phải sợ vợ.

Thân cư Thê cũng không đương nhiên là nhờ vợ, cũng không phải Thân cư Phu là đương nhiên nhờ chồng. Thật thế, cung Phu thê mà xấu thì nhờ được nỗi gì đâu? Họa chăng là cung đó tốt, nghĩa là chồng hay vợ được giàu sang, mình mới nhờ.

Vậy Thân cư Thê có nghĩa là gì? Có nghĩa là cuộc đời đương số chịu ảnh hưởng của vợ. Thân cư Phu cũng vậy. Chịu ảnh hưởng thỉ rời ra không được. Một ông Thân cư Thê mà chúng tôi biết được bà xã rất tháo vát, một tay quán xuyến việc nhà, ông không phải lo gì hết. Một ông khác cũng Thân cư Thê, giao hết con cái cho vợ để ông đi làm chính trị, đôi khi ông cũng léng phéng, nhưng các cô mèo chỉ đi thoáng qua và ông vẫn coi vợ trọng hơn hết. Cũng có thể là ảnh hưởng bà xã mạnh ông chồng nể vợ là ở chỗ đó.

Thế tại sao chồng lại sợ vợ? Gặp cách nào thì chồng sợ vợ? Đó là khi cung Thê có quyền tinh. Vợ mà có quyền thì ông chồng phải sợ. Các cách quyền tinh ở cung Thê là những cách đứng đắn và quyền hành:

- Thiên tướng, Quốc ấn (mạnh)
- Tướng quân, Quốc ân (mạnh vừa)
- Hóa quyền
- Khôi Việt
- Tử vi, Tả Hữu
- Thiên phủ, Tả Hữu

Chúng tôi có biết một ông có quyền chức lớn, ra ngoài hét ra lửa, ai cũng phải sợ. Thế mà ở nhà, khi bà hét, ông run lên cầm cập, len lét rút vào một xó không dám ho he. Chỉ tại ở cung Thê của ông, có mấy cách quyền tinh chập lại. Lý thứ nhất là lúc bà nổi giận mà phạt ông sau lần bắt được ông léng phéng với nữ thư ký. Bà quát:

- Nằm xuống giường.

Ông len lét nằm xấp xuống giường.

Bà hỏi:

- Mấy roi?

Ông thưa:

- Xin bà ba roi.

Bà cầm lấy cây chổi phất trần, quất xuống 3 roi thật mạnh vào mông đít. Ông kêu van xin chừa.

Câu chuyện đó thật 100%. Cả ông, cà bà cũng không cười trong lúc diễn ra cảnh đó. Ông sợ thật và bà cũng thật sự biểu lộ quyền oai theo sở thích của bà.

KHHB 74-K2 – Thanh Mai

Thứ Năm, 16 tháng 6, 2022

 


CHƯƠNG V: 8 CÁCH TỐT VÀ XẤU CỦA CAN CHI

Trong 10 Thiên can có 2 cách: can Hạp và Can Phá
Trong 12 Địa Chi có 6 cách: Tam Hợp, Lục Hợp, Lục Xung, Lục Hại, Lục Phá, Tam Hình.
– Can Hạp: Giáp với Kỷ, Ất với Canh, Bính với Tân, Đinh với Nhâm, Mậu với Quý . Can Hạp là cách rất tốt chỉ sự thuận thành, hơn nữa Can là thiên, là gốc vậy
– Can Phá: Giáp phá Mậu, Ất phá Kỷ, Bính phá Canh, Đinh phá Tân, Mậu phá Nhâm, Kỷ phá Quý, Canh phá Giáp, Tân phá Ất, Nhâm phá Bính, Quý phá Đinh.
Về 2 cách này, Tôi chỉ cho các anh chị, các bạn thế này: Đếm theo thứ tự: Giáp Ất Bính Đinh Mậu Kỷ Canh Tân Nhâm Quý. Từ Can mình cần biết đến can thứ 5 là Can Phá, can thứ 6 là Can Hạp.
VD 1: Từ Giáp là 1, Ất là 2, Bính là 3, Đinh là 4, Mậu là 5, Kỷ là 6
Vậy là Giáp phá Mậu, và Giáp Hạp Kỷ
VD 2: Từ Nhâm là 1, Quý là 2, Giáp là 3, Ất là 4, Bính là 5, Đinh là 6
Vậy là Nhâm phá Bính, và Nhâm Hạp Đinh.
Vậy cho dễ nhớ, hơi đâu mà học thuộc ? Rồi khi dùng thường xuyên sẽ tự nhớ thôi, không cần nhọc trí ngồi học.
– Lục Hợp: Tý với Sửu , Dần với Hợi , Mão với Tuất , Thìn với Dậu , Tị với Thân , Ngọ với Mùi . Chủ sự hòa hợp, ưng thuận
– Lục Xung: Tý với Ngọ , Sửu với Mùi , Dần với Thân , Mão với Dậu , Thìn với Tuất , Tị với Hợi . Chủ sự dời động, chống trả
– Lục Hại: Tý với Mùi , Sửu với Ngọ , Dần với Tị , Mão với Thìn , Thân với Hợi , Dậu với Tuất . Chủ sự ngăn trở, chậm trễ
3 cách này thì vì Tôi không biết cách vẽ bàn tay với các vị trí Tý, Sửu, Dần, Mão nên khó mà chỉ vậy . Nhưng nếu ai đã thấy qua các bàn tay với các vị trí Địa chi trên đó rồi, thì TÔI nói thế này sẽ hiểu ngay thôi:
– Lục Hạp: các Địa Chi bắt cặp theo hàng ngang trên bàn tay
– Lục Xung: các Địa Chi bắt cặp theo vị trí chéo với nhau trên bàn tay
– Lục Hại: các Địa Chi bắt cặp theo hành dọc trên bàn tay.
Do không vẽ được nên Tôi chỉ nói thế thôi, các anh chị, các bạn nào biết qua bàn tay với 12 Địa Chi đó hãy tự để ý vậy nhé !
– Tam Hạp: Thân Tý Thìn (thành Thủy Cục), Dần Ngọ Tuất (thành Hỏa Cục), Hợi Mão Mùi (thành Mộc Cục), Tị Dậu Sửu (thành Kim Cục). tam Hợp chủ sự hội hiệp, tụ tập. Nhưng thường thì nó chậm hơn cách Lục Hợp.
– Lục Phá: Tý với Dậu, Tuất với Mùi, Thân với Tị, Ngọ với Mão, Thìn với Sửu, Dần với Hợi. Chủ sự tan tác, dời đổi
Cho nên ta thấy trong Lục Hạp và Lục Phá có 2 cặp giống nhau là Dần với Hợi, Thân với Tị ==> Cho nên gặp trường hợp đó thì sự tốt đẹp không bền lâu
mau chóng tan rã.
– Tam Hình: Tý hình Mão, Mão hình Tý, Tị hình Thân, Thân hình Dần, Dần hình Tị, Sửu hình Tuất, Tuất hình Mùi, Mùi hình Sửu, Ngọ hình NGọ, Thìn hình Thìn, Dậu hình Dậu, Hợi hình Hợi . Là cách xậu chủ sự thương tàn, tổn hại
CÁCH DÙNG:
Trong lịch có ghi tên mỗi ngày. Tên mỗi ngày gồm có 1 can và 1 chi, Can đứng trước, Chi đứng sau. Lấy Can của ngày so với Can của tuổi mình, và lấy Chi của ngày so với Chi của tuổi mình. Nếu được cách tốt là ngày ấy hạp với mình,nếu được cách xấu thì mưu sự trở ngại
Thí dụ như mình tuổi Giáp mà gặp ngày Kỷ là được Can hạp, gặp ngày Canh hay Mậu là Can phá.
như mình tuổi Tý mà gặp ngày Sửu là được Lục Hợp, gặp ngày Thân hya Thìn là Tam Hợp ; gặp ngày Ngọ là Lục Xung, gặp ngày Mão là Tam Hình, gặp ngày Dậu là Lục Phá, gặp ngày Mùi là Lục Hại
Tóm lại lấy Can Chi của ngày so đối với can chi của tuổi mình, cốt yếu để biết ngày tốt căn bản mà mình đã chọn khởi công đó có hạp với tuổi mình không. Nếu gặp 1 cách tốt thì cộng thêm 1 điểm, gặp 1 cách xấu thì trừ đi 1 điểm
Sau khi so đối thêm bớt điểm xong, cốt yếu là để chọn ngày cao điểm hơn mà dùng vậy.
Nguồn : 3 Cọp chôm chỉa từ anh em Tử Vi Nam Phái Hậu Thiên Lương 

Ngũ Lục Hợp trong khoa tử vi - trích sưu tầm tổng hợp

NGŨ LỤC HỢP PHÁP TRONG TỬ VI Có 5 cặp lục hợp : Thiên Đồng - Tham lang, Thiên cơ - Phá Quân, Thiên lương - Liêm Trinh, Thái Dương Thiên Phủ,...